Hội Dòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn

GIỚI THIỆU

Nguồn gốc

Dòng Mến Thánh Giá do Đức Cha Lambert de la Motte sáng lập tại Đàng Ngoài năm 1670, Đàng Trong năm 1671 và Thái Lan năm 1672.

Hội dòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn, có nguồn gốc từ Dòng Mến Thánh Giá Đàng Trong (An Chỉ, Quảng Ngãi), được Đức Cha Đamianô Grangeon (Mẫn) quyết định canh tân để thích ứng với Giáo luật 1917 qua Thư chung đề ngày 01.6.1926, trong đó ngài ủy nhiệm cho Cha Jean Baptiste Solvignon (Lành) thực hiện.

Thánh Bộ Tu sĩ đã ban Sắc chuẩn y  cho phép thành lập Dòng Mến Thánh Giá Địa phận Qui Nhơn ngày 02.3.1929 và Đức Cha Augustinô Tardieu (Phú) ban Chỉ thị Lập Dòng ngày 14. 9.1932.

Bản chất

Dòng Mến Thánh Giá gồm những chị em được thánh hiến để sống giao ước tình yêu với Thiên Chúa, vừa chiêm niệm vừa hoạt động, có lời khấn công, sống thành cộng đoàn theo một bản luật, trực thuộc Đấng bản quyền sở tại và hướng về sứ mạng truyền giáo cho lương dân.

Đặc sủng

Đặc sủng Dòng Mến Thánh Giá là yêu mến Chúa Giêsu Kitô Chịu Đóng Đinh và tham dự vào sứ mạng cứu thế của Người.

Đặc sủng được thể hiện qua mục đích và sứ mạng:

1. Đạt tới sự hiểu biết, yêu mến và hiến thân trọn vẹn cho Chúa Giêsu Kitô Chịu Đóng Đinh.

2. Tiếp nối sứ mạng cứu thế của Chúa Giêsu Kitô:

a. Bằng lời kinh chuyển cầu để xin ơn hoán cải cho những tín hữu sống xa lìa Chúa và cho lương dân ơn nhận biết Chúa.

b. Bằng đời sống chứng nhân và phục vụ trong các lãnh vực: đức tin, luân lý, giáo dục, xã hội và y tế; ưu tiên cho giới nữ.

Linh đạo

Linh đạo Dòng Mến Thánh Giá tập trung vào mầu nhiệm thập giá cứu độ của Chúa Giêsu Kitô.

Linh đạo được thể hiện qua ba chiều kích:

1. Chiêm niệm: chuyên tâm suy niệm và yêu mến Chúa Giêsu Kitô Chịu Đóng Đinh trên thập giá,Đấng đã thí mạng sống mình vì tình yêu lớn nhất dành cho Chúa Cha và nhân loại.

2. Khổ chế: phát huy tinh thần hy sinh và khao khát đồng hóa với Chúa Giêsu Kitô trong mầu nhiệm khổ nạn.

3. Tông đồ: sống tinh thần Phúc Âm và nhiệt thành với sứ mạng cứu rỗi các linh hồn.

Đặc tính

Chị em Mến Thánh Giá:

1. Gắn bó với Giáo hội địa phương và cộng tác với hàng Giáo sĩtheo quy định của Giáo luật và Luật riêng của Hội dòng.

2. Sống giản dị, vui tươi, khiêm tốn, yêu thích trầm lặng, chuyên cần học hỏi, đảm đang công việc và quên mình phục vụ mọi người.