Hội Dòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn

TÂN PHÚC ÂM HÓA THEO JOSEPH RATZINGER TRONG SỨ VỤ HUẤN GIÁO- Tân Phúc Âm Hóa là gì ? Vì sao lại Tân Phúc Âm Hóa ?

Tân Phúc Âm Hóa là gì ? Vì sao lại Tân Phúc Âm Hóa ? Tân Phúc Âm Hóa như thế nào ? Từ sau Công đồng Vatican II, Giáo Hội đã trình bày và mổ xẻ rất nhiều về đề tài này dưới nhiều góc nhìn khác nhau. Dựa vào diễn văn của Đức hồng y Joseph Ratzinger, tại Đại hội năm thánh 2000 cho giáo lý viên, về «Tân Phúc Âm Hóa » (Nouvelle évangélisation), nội dung của bài viết xin được giới hạn trong việc huấn giáo. Giáo lý viên (GLV)- người loan báo Tin Mừng- cũng cần Tân Phúc Âm Hóa chính mình để việc huấn giáo thấm đẫm tinh thần truyền giáo. Trước khi trình bày nội dung, chúng ta tìm hiểu sơ lược về lịch sử của hạn từ Tân Phúc Âm Hóa.

Hạn từ này được Đức Gioan Phaolô II sử dụng đầu tiên trong chuyến viếng thăm mục vụ tại Ba Lan lần thứ nhất, năm 1979. Tiếp đến, trong hội nghị các Giám Mục Châu Mỹ Latinh tại Haïti vào năm 1983, ngài nhấn mạnh ý nghĩa từ « tân » trong Phúc Âm Hóa không có nghĩa là một Phúc Âm mới, nhưng là «mới trong sự nhiệt thành, trong phương pháp, trong lối diễn tả.»[1] Năm 1988, Đức Gioan Phaolô II lại sử dụng hạn từ này trong tông huấn Người tín hữu giáo dân, Christifideles Laici. Ngài nhận định: « Tại nhiều nước, nhiều quốc gia tuy còn bảo tồn được truyền thống đạo đức sống động và tâm tình công giáo, nhưng gia sản luân lý thiêng liêng ấy cũng đang bị nguy cơ biến dần vì nhiều ảnh hưởng xấu, nhất là ảnh hưởng phong trào tục hóa và các giáo phái đang lan tràn khắp nơi. Chỉ có việc Tân Phúc Âm Hóa mới có thể bảo đảm cho việc triển nở một đức tin trong sáng và sâu xa, có khả năng làm cho những truyền thống ấy trở thành một sức mạnh giải thoát đích thực. »[2] Ngoài ra, Đức Gioan Phaolô II còn đề cập về Tân Phúc Âm Hóa trong các thông điệp Sứ vụ Đấng Cứu Thế, Redemptoris Missio, năm 1990, số 30, 33 và 34; tông huấn Pastores Dabo Vobis về Đào tạo linh mục trong hoàn cảnh hiện nay, năm 1992, số 10; tông thư Ngàn năm thứ ba đang đến, Tertio Millennio Adveniente, năm 1994, số 21 và 45. Năm 2000, Đức hồng y Joseph Ratzinger mời gọi giáo lý viên dấn thân vào công cuộc «Tân Phúc Âm Hóa ».

Theo Đức hồng y, Tân Phúc Âm Hóa không có nghĩa là sử dụng những phương cách mới và tinh tế hơn để lôi cuốn tức thời số đông dân chúng nhưng họ lại sống xa lìa Giáo Hội. Không- đây không phải là điều hứa hẹn của Tân Phúc Âm Hóa. Tân Phúc Âm Hóa được ví như hạt cải gieo vào lòng đất[3], trong sự nhỏ bé âm thầm khiêm tốn dám chết đi để được đơm hoa kết trái. Đó là hình ảnh của Chúa Giêsu trong mầu nhiệm Tử nạn và Phục sinh. « Cuộc thương khó của Chúa Giêsu là nguồn sự sống bất tận cho thế giới. »[4] Nhiệm vụ của chúng ta là sống thế nào để làm cho thế giới có khả năng lắng nghe Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô. Nhận thấy rằng trong bối cảnh xã hội hiện nay, con người bị tục hóa, mất khả năng yêu thương, không tìm được ý nghĩa của cuộc sống. Họ không tìm được Tin Mừng trong việc rao giảng thường xuyên và cổ xưa của Giáo Hội: « cử hành mầu nhiệm Thánh Thể mỗi ngày, ban các bí tích, công bố Lời Hằng Sống- Lời Thiên Chúa, dấn thấn cho công lý và bác ái. »[5] Họ không nhận ra ánh sáng, niềm vui và hơi ấm chiếu tỏa từ việc rao giảng cổ xưa này. Sự cấp bách và cần thiết là phải Tân Phúc Âm Hóa bằng truyền tải một nghệ thuật sống, chỉ ra con đường hạnh phúc mà Đức Giêsu Kitô « là con đường, là sự thật và là sự sống » (Ga 14, 6a). Joseph Ratzinger gợi ý phương pháp và nội dung của việc Tân Phúc Âm Hóa như sau:

1.Phương pháp Tân Phúc Âm Hóa 

Sử dụng phương pháp nào hay con đường nào để làm cho tiếng nói của Chúa, lời dạy của Người và Tin Mừng của Người được người khác tiếp nhận và dễ hiểu ? Đức hồng y mời gọi hãy nhìn Đức Kitô và đi theo con đường của Người: Đó là con đường tự hủy và trao ban, con đường khổ nạn và Phục sinh. Ngài nhấn mạnh: « Ra khỏi chính mình để dâng hiến cho Đức Kitô vì phần rỗi của con người chính là điều kiện căn bản cho việc dấn thân thật sự vì Tin Mừng. »[6] Loan báo Tin Mừng không chỉ tìm cách để nói nhưng còn là một lối sống của mỗi người chúng ta. Một lối sống hiệp thông sâu đậm với Thiên Chúa Ba Ngôi và gắn liền với Giáo Hội, nhân danh sứ mạng của Giáo Hội. Ngoài ra, « không có nền tảng cầu nguyện, mọi phương pháp sẽ trở nên rỗng không. Tất cả mọi lời loan báo phải được thấm đẫm bởi đời sống cầu nguyện mãnh liệt. »[7] Đời sống của Chúa Giêsu là chuỗi ngày cầu nguyện, là hành trình tiến về thập giá, tiến lên Giêrusalem. Chúa Giêsu đã không cứu độ nhân loại bằng những lời nói hoa mỹ nhưng bằng chính sự khổ nạn và cái chết của Người. Chính cuộc khổ nạn minh chứng cho lời rao giảng của Người. Joseph Ratzinger đưa ra những dẫn chứng trong Kinh Thánh: Chúa Giêsu hủy mình chịu mục nát như hạt lúa gieo vào lòng đất (x. Ga 12, 24), thánh Phaolô thành công trong việc rao giảng Tin Mừng không phải nhờ vào tài hùng biện hay khả năng mục vụ khôn khéo nhưng là sự kết hiệp với đau khổ trong cuộc khổ nạn của Đức Kitô (x. 1Cr, 2,1-5; 2Cr 5,7; 11,30; Gal 4,12-14), hạt giống đức tin của các thánh Tử đạo, đặc biệt hình ảnh của ngôn sứ Giôna ở trong bụng kình ngư ba ngày ba đêm (x. Gn 2,1) là dấu chỉ hoàn hảo của Đức Kitô ba ngày ba đêm trong lòng đất (x. Mt 12,40). Qua đây, chúng ta nhận thấy rằng phương pháp «Tân Phúc Âm Hóa » đặt trọng tâm nơi con người của Đức Giêsu Kitô, đâm rễ sâu trong mầu nhiệm tự hủy của Người. Phương pháp này mang đặc tính quy Kitô.

Bài diễn văn của Đức hồng y Joseph Ratzinger như muốn ngỏ lời mời GLV đặt nền tảng đời sống và lời huấn giáo của mình vào Đức Giêsu Kitô. Muốn để cho Đức Kitô chi phối đời sống mình- như xác tín của thánh Phao lô: « Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi » (Gl 2,20a), « Đối với tôi, sống là Đức Kitô » (Pl 1,21)- cần thiết phải xây dựng mối tương quan cá vị với Người nhờ vào việc tham dự phụng vụ, đọc, suy niệm và chia sẻ Lời Chúa, cầu nguyện cá nhân và cộng đoàn… « Chỉ khi nào người môn đệ bám chặt vào Chúa, như cành nho bám vào chặt vào thân cây nho; chỉ khi nào người môn đệ ý thức từ bỏ hết những gì mình có, chỉ khi nào người môn đệ ý thức hiệp thông với Chúa Giê-su đón nhận thập giá và vác thập giá theo bước chân Người […] thì mới có thể sống đời môn đệ của Chúa, Đấng Yêu Thương đã như chiên hiền lành bị đem đi giết mà không hé răng để biện minh và để kêu đau. »[8] Phải chăng đây là « mới trong sự nhiệt thành » mà Đức Gioan Phaolô mời gọi? Nghĩa là làm mới lại mối hiệp thông cá vị với Đức Kitô, để nhờ Đức Kitô chiếm đoạt, toàn bộ đời sống của chúng ta quy hướng về Người. Chính nhờ sự nhiệt thành vun đắp cuộc gặp gỡ cá vị với Đức Kitô, chúng ta đủ lòng mến để sống tự hủy, chấp nhận chết đi và mục nát vì Người và vì Tin Mừng của Người.

Do đó, trong việc huấn giáo, GLV cố gắng xoay chuyển mọi hoạt động của giờ giáo lý (chuyện kể, sinh hoạt, dẫn giải Lời Chúa, cầu nguyện…) quy về Đức Kitô;  khơi gợi lên trong các em lòng yêu mến Người và gặp gỡ Người. Đừng biến giờ giáo lý thành gánh nặng cho các em với những điều phải học, phải giữ, phải thực hành… Vì « luân lý Kitô giáo không phải là một dạng của chủ nghĩa khắc kỷ, hay thái độ từ bỏ mình, cũng không phải một thứ triết học thực hành, hay một danh mục các tội lỗi. Trên hết, Tin Mừng mời gọi chúng ta đáp lại vị Thiên Chúa của tình thương, Đấng cứu độ chúng ta, nhìn thấy Chúa nơi tha nhân và ra khỏi bản thân mình để tìm lợi ích cho tha nhân. […] Nếu lời mời gọi này không chiếu toả một cách sinh động và hấp dẫn, toà nhà giáo huấn luân lý của Hội Thánh có nguy cơ trở thành một căn nhà bằng giấy, và đây là mối nguy lớn nhất của chúng ta. Trong trường hợp này, điều chúng ta giảng không phải là Tin Mừng, mà là một số điểm về giáo điều hay luân lý dựa trên một số chọn lựa ý thức hệ đặc thù. Sứ điệp sẽ có nguy cơ mất đi sự tươi mát và sẽ không còn là “hương thơm của Tin Mừng”. »[9]

2.Nội dung của việc Tân Phúc Âm Hóa 

Đức hồng y Joseph Ratzinger trình bày bốn yếu tố: hoán cải, nước Thiên Chúa, Đức Giêsu Kitô và sự sống đời đời.

a. Hoán cải:

Theo Đức hồng y, nội dung chính của hoán cải dựa trên nền tảng Thánh Kinh trong sự liên kết giữa Cựu Ước và Tân Ước. Đức Giêsu lấy lại sứ điệp của Gioan Tẩy Giả và rao giảng rằng: « Hãy hoán cải và tin vào Tin Mừng » (Mc 1,15). Trong việc hoán cải, Joseph Ratzinger đề cập đến hai phương diện: chất vấn chính lối sống của mình và lối sống chung. Từ việc làm này, loại bỏ được chủ nghĩa chủ quan, sự quy hướng về mình và không lấy ý kiến của đa số như tiêu chí để xét đoán và hành động. Nhờ vậy, hoán cải mang đến sự chuyển động tích cực là « để Thiên Chúa đi vào trong những chuẩn mực của đời sống mình »[10], là « khiêm nhường trong sự ký thác bản thân mình vào tình yêu của Đấng khác, một tình yêu trở nên thước đo và tiêu chuẩn của đời sống của tôi. »[11] Nói cách khác, đó là sự đón nhận trong tình hiệp thông với Đức Kitô và chỉ có Thiên Chúa là thước đo của cuộc sống chúng ta. Hơn nữa, còn một chuyển động khác là « ra khỏi sự tự mãn để khám phá và chấp nhận sự nghèo nàn của chính mình, sự thiếu thốn của người khác. »[12] Thoát ra khỏi sự xét đoán của chính mình và của đa số: « không sống như những người khác sống, không làm những gì họ làm, […] nhìn cuộc sống của mình với con mắt của Thiên Chúa »[13].

Thật vậy, muốn truyền tải Tin Mừng của Đức Kitô đến mọi người, GLV không thể thiếu tinh thần hoán cải. Nghĩa là để cho Đức Kitô hướng dẫn và biến đổi chúng ta; để cho lời nói, cử chỉ, thái độ, hành động, tâm tình của Người làm thước đo cho việc huấn giáo và lối sống của chúng ta; không tự cho mình là đủ bằng tài năng và sức mạnh riêng mình; không khép mình lại trong sự ích kỷ, quy hướng về mình để tìm kiếm thành công, danh vọng nhưng mở ra cho Đức Kitô và cho tha nhân. Niềm xác tín này đòi hỏi phải được biến đổi thành hành động và cụ thể hóa trong việc giảng dạy đức tin và lối sống của GLV. Trong tông huấn Chúa Kitô đang sống Christus Vivit, Đức Thánh Cha Phanxicô trích dẫn lời của thánh Alberto Hurtado như sau: « là tông đồ không có nghĩa là đeo một huy hiệu trên ve áo; không có nghĩa là thuyết giảng về chân lý, nhưng là sống chân lý, trở thành hiện thân của chân lý, được biến đổi thành Đức Kitô… ».[14] Quả thật, hoán cải mang ý nghĩa loan báo Tin Mừng mà mỗi chúng ta là chứng nhân và Đức Kitô là trọng tâm của lời rao giảng.

b. Nước Thiên Chúa: 

Trong bối cảnh người ta không còn tin Thiên Chúa nữa, muốn đẩy Người ra khỏi cõi đời này, không đón nhận mạc khải của Người là chính Đức Giêsu Kitô, Đức hồng y Joseph Ratzinger khẳng định rằng nước Thiên Chúa không phải là một sự vật, một cơ cấu xã hội hay chính trị, một điều viễn vông. Nước Thiên Chúa là chính Thiên Chúa, Thiên Chúa hiện hữu, Thiên Chúa đang sống và hoạt động trong thế giới, trong cuộc đời của chúng ta- trong cuộc sống của tôi[15]. Ngài phân tích điều này dựa vào quan điểm của nhà thần học J.B. Metz: « sự khủng hoảng về Thiên Chúa ».

Đối diện với khủng hoảng này, trong việc loan báo Tin Mừng, cần thiết phải xác tín rằng «nước Thiên Chúa là chính Thiên Chúa ». Sự khẳng định này cần được vang vọng để giúp con người trong thời đại hôm nay khám phá lại Thiên Chúa đang sống và đang hoạt động trong con người và trong lịch sử. Sự khám phá này được thể hiện: sự gặp gỡ Thiên Chúa qua cầu nguyện: « Rao giảng về Thiên Chúa không chỉ bằng lời, nhưng là dẫn vào tương quan với Người: dạy cách cầu nguyện. »[16] Cầu nguyện riêng, cầu nguyện chung và cầu nguyện trong phụng vụ. Đức hồng y nhấn mạnh: « nói về Thiên Chúa và nói với Thiên Chúa phải luôn luôn đi đôi với nhau. »[17] Đây cũng là lời nhắn nhủ mỗi người chúng ta trong sứ vụ huấn giáo. Chúng ta không chỉ là người nói về Chúa nhưng song song với việc này đòi hỏi chúng ta phải thường xuyên nói chuyện với Chúa. Làm sao chúng ta có thể nói về Chúa nếu như không trò chuyện với Người, không có kinh nghiệm gặp gỡ Người? Đây phải là điều luôn luôn chất vấn chúng ta, nếu không, giờ giáo lý bị đồng hóa với việc « dạy thủ bản » giáo lý và việc thông truyền đức tin đồng hóa với việc truyền nội dung của « thủ bản » giáo lý, thay vì giờ giáo lý là giờ gặp gỡ Đức Giêsu Kitô. Như vậy, làm sao các em học giáo lý, các bạn trẻ không cảm thấy Thiên Chúa quá xa lạ. Trong khi Thiên Chúa luôn luôn yêu thương con người. Đức thánh Cha Phanxicô nói với các bạn trẻ: « Trong bất cứ cảnh huống nào, con cũng được Thiêu Chúa yêu thương vô tận […] Khi Ngài yêu cầu con điều gì hoặc đơn giản để con đối diện với những thách đố trong cuộc đời, đó là lúc Ngài mong con để cho Ngài thúc đẩy con, động viên con, giúp con trưởng thành. Ngài không khó chịu khi con nêu lên những nghi ngờ, nhưng Ngài ưu tư khi con không nói chuyện với Ngài, khi con không mở lòng ra đối thoại chân thành với Ngài. »[18]

 Tân Phúc Âm Hóa là gì nếu không phải « làm mới trong phương pháp ». « Mới trong phương pháp là biết vận dụng những phương pháp thích hợp để đáp ứng sự thay đổi nhanh chóng của thời đại về nhiều mặt, văn hóa, xã hội cũng như kỹ thuật. »[19] Nhờ đó, việc huấn giáo của chúng ta mới giúp các em cảm nhận Tin Mừng tình thương của Thiên Chúa, cảm nhận được Người yêu thương, từ đó, thúc đẩy các em cụ thể hóa sứ điệp yêu thương trong đời sống.

c. Đức Kitô: 

Không thể loan báo về Thiên Chúa hiện hữu cách hoàn hảo mà không nói về Đức Giêsu Kitô, hình ảnh đích thực của Chúa Cha, Thiên Chúa ở với chúng ta, Thiên Chúa thật và là người thật. Vì vậy, loan báo Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại phải là sự khao khát của mỗi người chúng ta. Đức hồng y Joseph Ratzinger trình bày hai khía cạnh quan trọng về việc loan báo này. Thứ nhất, loan báo Tin Mừng phải dẫn đến việc bước theo Đức Kitô, Người là con đường cho cuộc sống của chúng ta. Bước theo Đức Kitô không phải là bắt chước Đức Kitô mà là nên một với Người, tháp nhập vào Người, được đón nhận trong đời sống bí tích. Theo Đức Kitô không phải chỉ là vấn đề luân lý đạo đức nhưng là một « mầu nhiệm », một tổng thể hành động thánh thiêng và là lời đáp trả của chúng ta[20]. Thứ hai, loan báo Tin Mừng phải tập trung vào Đức Kitô, mầu nhiệm tử nạn và Phục sinh của Người. Mầu nhiệm này diễn tả một tình yêu cho đi hoàn toàn đến hiến dâng thân mình làm của lễ. Chính vì thế, Đức hồng y khẳng định « theo Đức Kitô là thông dự vào thập giá, kết hợp chính mình với tình yêu của Người, biến đổi đời sống của chúng ta thành con người mới, được tạo nên theo hình ảnh Thiên Chúa. »[21]

Vì vậy, động lực sâu xa của việc Tân Phúc Âm Hóa là niềm vui phát xuất từ tương quan hiệp thông mật thiết với Đức Kitô. Mối tương quan này làm cho chúng ta ngày một hiểu biết, yêu mến và say mê Đức Kitô hơn. Một khi có được tâm tình này chắc chắn chúng ta cảm thấy cần được chia sẻ và thông truyền kinh nghiệm đó cho các em. Đức giáo hoàng Phanxicô nhắn nhủ : « Có tình yêu nào không cảm thấy nhu cầu nói với người yêu, chỉ ra người yêu, làm cho người yêu được biết đến? »[22] Ước mong mỗi người GLV chúng ta mang tâm tình này đến với các em trong giờ giáo lý, giờ gặp gỡ Đức Kitô, giờ của niềm vui, của niềm hạnh phúc vì được biết Đức Kitô.

d. Sự sống đời đời: 

Nhận thấy nội dung cuối cùng « sự sống đời đời » được liên kết với nội dung « nước Thiên Chúa ». Sự liên kết này khá chặt chẽ giữa đặc tính cánh chung, quy Kitô và giáo huấn luân lý. Phải nhấn mạnh rằng sự sống đời đời là một yếu tố trọng tâm của Tân Phúc Âm Hóa và là nội dung chính của Tin Mừng. Cần ghi nhớ hai phương diện của việc loan báo Tin Mừng. Thứ nhất, loan báo một Thiên Chúa tình yêu : Người biết chúng ta, lắng nghe chúng ta và đi vào lịch sử để thực thi công lý. 23] Điều này không ngăn cản chúng ta nói với thế giới về sự phán quyết và công lý để từ đó khơi gợi lên ý thức về sự thật. Thứ hai, mầu nhiệm Đấng Cứu Thế, Người mang lại niềm hy vọng ơn cứu độ và lòng thương xót cho chúng ta. Loan báo về sự sống đời đời là loan báo về lòng nhân hậu vô biên của Thiên Chúa. Khi hiểu và đón nhận tình thương hải hà này, chúng ta sẽ hướng sự sống đời này về sự sống vĩnh cửu. Chỉ khi thước đo của cuộc sống chúng ta là sự sống đời đời, thì cuộc sống này của chúng ta trên dương thế có giá trị vô biên[24].

Thiết nghĩ mỗi người GLV chúng ta và ngay cả các em trong lớp giáo lý đều khát khao cảm nhận được Thiên Chúa yêu thương mình. Nghĩa là chúng ta xác tín Thiên Chúa là tình yêu, và chúng ta tin rằng « Đức Kitô, Đấng nhờ sự chết và sống lại của Ngài, mặc khải và thông truyền cho chúng ta lòng thương xót vô biên của Cha. »[25] Đó là lời loan báo tiên khởi mà Đức giáo hoàng Phanxicô mời gọi người dạy giáo lý phải « nghe đi nghe lại bằng nhiều cách khác nhau, phải loan báo bằng cách này hay cách kháctrong suốt tiến trình huấn giáo, ở mọi cấp độ và mọi thời điểm. »[26]Việc này đòi hỏi chúng ta không ngừng « làm mới trong lối diễn tả » để thích nghi với bối cảnh Tân Phúc Âm Hóa. « Mới trong cách diễn tả là cố gắng nghiên cứu và sử dụng những cách diễn tả phù hợp, để con người hôm nay có thể hiểu và lĩnh hội được sứ điệp Phúc Âm. »[27] 

3 . Kết Luận :

Bắt đầu bài diễn văn, Đức hồng y Joseph Ratzinger nhận định rằng « loan báo Tin Mừng là tỏ lộ con đường để dạy nghệ thuật sống hoàn hảo. » Con đường là Đức Giêsu Kitô, Đấng chịu tử nạn và Phục sinh hầu mang ơn cứu độ cho nhân loại. Tân Phúc Âm Hóa hàm ý họa lại con người Đức Giêsu Kitô trong cuộc sống của chúng ta. Khởi đi từ sự hoán cải, tin vào Thiên Chúa ; tin vào Thiên Chúa là tin vào con của Người- Đức Giêsu Kitô- Đấng đang sống và hoạt động trong mỗi người và trong thế giới này ; tin vào Đức Giêsu Kitô thì được sự sống đời đời (x. Ga 3,16.36 ; 5, 24 ; 6,47). Để nội dung của việc Tân Phúc Âm Hóa này được được thông truyền như một nghệ thuật sống, nghĩa là được lắng nghe, hiểu, đón nhận, tuyên xưng và cụ thể hóa trong lối sống, đòi hỏi mỗi người GLV chúng ta luôn tìm cách khám phá ra tình yêu Chúa trong cuộc đời mình, sống hiệp thông với Đức Giêsu Kitô để là cầu nối dẫn các em đến sự hiệp thông với Người và với tha nhân, chứng nhân cho Tin Mừng dưới tác động và dẫn dắt của Chúa Thánh Thần. Ước mong mỗi người chúng ta có được đôi mắt của Đức Kitô, đôi tai của Đức Kitô, đôi tay của Đức Kitô, đôi chân của Đức Kitô, môi miệng của Đức Kitô, con tim của Đức Kitô, tinh thần của Đức Kitô và sự hiện diện đầy yêu thương của Đức Kitô để nhờ đó việc huấn giáo có khả năng làm cho thấm nhuần tinh thần Phúc Âm, làm cho biến đổi lối sống và làm cho trở thành chứng nhân Tin Mừng.

Nt. Nguyễn Thị Thanh Lan

                                                (Dòng MTG.Qui Nhơn)

[1]JEAN-PAUL II, Exhortation Apostolique Ecclesia in America sur la rencontre avec le Christ vivant, chemin de conversion, de communion et de solidarité en Amérique, 1983, n06.

[2]GIOAN PHAOLÔ II, Tông huấn Người tín hữu giáo dân, Christifideles Laici, về Ơn gọi và sứ mạng của giáo dân trong Giáo Hội và thế giới,1988, số 34.

[3]Joseph RATZINGER, La nouvelle évangélisation, le 10 décembre 2000, Jubilé des catéchistes rassemblés à Rome, dans la documentation catholique, 21 janvier 2001, n0 2240, cf. p. 92 et 93.

[4]Joseph RATZINGER, La nouvelle évangélisation, op, cit., p. 92.

[5]Ibid.

[6]Ibid.

[7]Ibid.

[8]Lm. GB. Nguyễn Ngọc Thế SJ, « Đòi hỏi của Chúa Giê-su có còn hợp với thời đại Goolge, Youtube, G5, và với xã hội 5.0 ? »

[9]PHANXICÔ, tông huấn Niềm vui của Tin Mừng, Evangelii Gaudium, về việc rao giảng Tin Mừng trong thế giới hôm nay, 2013, số 39.

[10]Joseph RATZINGER, La nouvelle évangélisation, op, cit., p. 93.

[11]Ibid.

[12]Ibid.

[13]Ibid.

[14]PHANXICÔ, Tông huấn Chúa Kitô đang sống, 2019, số 175.  

[15]Joseph RATZINGER, La nouvelle évangélisation, op, cit., cf. p.94.

[16]Ibid.

[17]Ibid.

[18]PHANXICÔ, Tông huấn Chúa Kitô đang sống, 2019, số 112, 117. 

[19]Thư chung của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, 2013, số 4.

[20]Joseph RATZINGER, La nouvelle évangélisation, op, cit., cf. p.95.

[21]Ibid.

[22]PHANXICÔ, tông huấn Niềm vui của Tin Mừng… số 264.

[23]Joseph RATZINGER, La nouvelle évangélisation, op, cit., cf. p.95.

[24]Ibid.

[25] PHANXICÔ, tông huấn Niềm vui của Tin Mừng…, số 164.

[26] Sđd.

[27] Thư chung của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam…, sđd.



Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *