Hội Dòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn

TỰ DO NỘI TÂM TRONG ĐỒNG HÀNH THIÊNG LIÊNG

Đồng hành thiêng liêng là một tiến trình giúp người thụ hướng nhận ra con người thật của chính mình, khám phá ra những ân huệ Chúa ban cũng như những chướng ngại vật cản trở thăng tiến đời sống thiêng liêng. Sự nhận biết và khám phá này nhằm giúp người thụ hướng sống sung mãn mối tương quan hiệp thông sâu xa với Thiên Chúa và dấn thân bước theo Đức Kitô trong sự tự do của con cái Thiên Chúa. Phải chăng tự do của con cái Thiên Chúa là sự tự do nội tâm? Làm thế nào để đạt đến sự tự do nội tâm?

  1. Tự do nội tâm là gì?
  • Theo tự điển Larousse, tác giả giúp chúng ta hiểu theo ba nghĩa sau đây:

Thứ nhất liên quan đến những chuyển động: có khả năng di chuyển mà không bị cản trở về mặt thể lý. Thứ hai liên quan đến lựa chọn: có khả năng hành động, quyết định, suy nghĩ, diễn tả sự lựa chọn của riêng mình. Thứ ba nhấn mạnh đến thái độ của một người tự do không bị chi phối bởi nỗi sợ hãi, bối rối, định kiến[1].

  • Theo thánh Phaolô, tự do được hiểu là ở lại trong Chúa Kitô, trở nên môn đệ của Ngài vì chính Ngài giải phóng chúng ta (x. Gl 5,1).
  • Theo nhận định cá nhân, tự do là trở nên như chính mình. Nghĩa là hiểu biết về chính mình, có khả năng chấp nhận và đón nhận lịch sử đời mình và gia đình mình với niềm vui, với sự cảm nhận có bàn tay yêu thương dìu dắt của Thiên Chúa ngay cả khi đó là một lịch sử bi đát, tối tăm. Tự do là học cách diễn tả những ý kiến cá nhân, sở thích, cảm xúc, tình cảm, nỗi niềm, nghi ngờ… Tuy nhiên, tự do không có nghĩa là thích làm gì thì làm nhưng tự do trong tương quan với Thiên Chúa. Chỉ khi tự do trong tương quan với Thiên Chúa ta mới lắng nghe tiếng Chúa nói và Chính Ngài giải phóng chúng ta để đạt đến sự tự do đích thực. Làm thế nào để đạt đến sự tự do nội tâm?

2. Làm thế nào để đạt đến sự tự do nội tâm?

  • Kiến tạo bầu khí tin tưởng và yêu thương

Mỗi người thụ huấn gia nhập vào Hội Dòng mang trong mình một lịch sử riêng, hoàn cảnh riêng, cá tính riêng… Tất cả những thứ riêng ấy không dễ dàng gì để người thụ huấn bày tỏ với nhà đào tạo hoặc người đồng hành nếu họ không tìm được sự tin tưởng và khó có thể sống hài hòa với mọi người nếu họ không có được sự tự do nội tâm. Muốn vậy, nhà đào tạo hoặc người đồng hành trước tiên phải kiến tạo bầu khí dễ chịu, sẵn sàng đón tiếp, tin tưởng bằng tấm lòng yêu thương và nhân hậu, chia sẻ kinh nghiệm của mình và quan tâm. Quan tâm để cảm thông, để giúp đỡ vượt qua những khó khăn, tạo ra sự gần gũi chứ không phải tìm hiểu để soi mói, điều tra và dò xét người thụ huấn.

Ngoài ra, nhà đào tạo hoặc người đồng hành phải hòa đồng tham gia vào các sinh hoạt của người thụ huấn để họ tạo sự gần gũi, thân tình. Nhờ vậy, họ không còn sợ hãi, xa cách nhưng cảm nhận được sự ấm áp và dễ dàng chia sẻ những điều riêng tư trong cõi lòng. Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI nhắn nhủ : Nền giáo dục chân chính « trước tiên cần có sự gần gũi và tín nhiệm nảy sinh từ tình thương: tôi nghĩ đến kinh nghiệm đầu tiên và cơ bản về tình thương mà các trẻ em cảm nhận, hay ít là phải cảm nhận với cha mẹ các em. Nhưng mỗi nhà giáo dục đích thực đều biết rằng để giáo dục thì phải trao hiến một cái gì đó từ chính bản thân mình, và chỉ như thế mới có thể giúp các học sinh của mình khắc phục những ích kỷ và trở thành người có khả năng yêu thương đích thực. »[2] Như vậy, dầu là môi trường giáo dục hay đào tạo, điều trước tiên nhà giáo dục hay nhà đào tạo phải làm là kiến tạo bầu khí yêu thương và tin tưởng. Đó là hai khí cụ góp phần tạo nên tự do nội tâm. Một khi chúng ta cảm nhận được sự yêu thương chúng ta sẽ dễ dàng cởi mở tâm hồn.

  • Lắng nghe và có cái nhìn tích cực về người thụ huấn

Khi nghe, biết hay thấy những vấn đề gì đó nơi người thụ huấn, nhà đào tạo hoặc người đồng hành nên có cái nhìn và suy nghĩ tích cực, cố giắng tìm ra những điểm tốt trong vấn đề đó. “Vì chưng đức mến phủ lấp vô vàn tội lỗi. » (1P4,8) Qủa thật, nếu nhà đào tạo hoặc người đồng hành có cái nhìn tích cực về lầm lỗi của người thụ huấn, tạo cơ hội để họ biết nhận ra những lầm lỗi và sửa đổi thì hy vọng họ sẽ được biến đổi. Tự họ biến đổi chính mình mà không bị một sức ép nào từ nhà đào tạo hoặc người đồng hành. Khi đó, họ thật sự tìm được sự tự do trong tâm hồn.

Ngoài ra, lắng nghe cũng là yếu tố quan trọng để kiến tạo sự tự do nội tâm. Lắng nghe là hiện diện với người thụ huấn với sự kiên nhẫn, không đốt cháy giai đoạn nhưng từng bước dẫn đưa họ nhận biết và chấp nhận chính mình cũng như ân ban, tình thương của Thiên Chúa hiện diện trong cuộc đời mình. Cần lắng nghe trong Chúa Thánh Thần và lắng nghe với trái tim để thấu hiểu cách đúng đắn, không thiên vị, lên án và in trí. Đức giáo hoàng Phanxicô dạy:

“ Chúng ta cần phải thực hành nghệ thuật lắng nghe, mà lắng nghe khác với nghe. Trong việc giao tiếp với người khác, điều đầu tiên là khả năng của con tim có thể tạo ra sự gần gũi, mà nếu không có nó thì không có cuộc gặp gỡ tinh thần thực sự. Việc lắng nghe giúp chúng ta tìm được những cử chỉ và lời nói thích hợp để kích hoạt tình trạng im lìm của khán giả. Chỉ qua việc lắng nghe cách tôn trọng này và khả năng thông cảm, chúng ta mời có thể tìm thấy những con đường tăng trưởng thật, chúng ta mới có thể đánh thức những ao ước về lý tưởng Kitô giáo, sự nóng lòng đáp trả trọn vẹn tình yêu của Thiên Chúa và ao ước phát triển cách tốt nhất những gì mà Thiên Chúa đã gieo trong cuộc đời họ.”[3]

Có thể nói rằng: việc lắng nghe này tạo cho người thụ huấn có cảm giác được đón nhận và sẽ giúp họ dễ dàng chia sẻ những sâu thẳm nhất. Nhất thiết, nhà đào tạo hoặc người đồng hành phải cần ơn Chúa, sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần và sự khéo léo tinh tế để giúp người thụ huấn tìm được sự tự do trong việc huấn luyện chính mình, bước đi bằng đôi chân của mình không dựa dẫm. Đức giáo hoàng Phanxicô khuyên: “ Để đạt được một mức trưởng thành, nghĩa là để cho người ta có khả năng quyết định thật sự tự do và có trách nhiệm, thì điều cần thiết là phải có thời gian, và rất kiên nhẫn.”[4]

Xem câu chuyện Chúa Giêsu và người phụ nữ Samari (Ga 4, 5-43).

  • Tính bảo mật

Tính bảo mật cũng giữ vai trò rất quan trọng trong việc giúp người thụ huấn đạt đến tự do nội tâm và lòng tín nhiệm để có thể nói hết những điều bí ẩn của tâm hồn ngay cả trong lãnh vực tình cảm, lời khấn khiết tịnh. Vì thế, nhà đào tạo hoặc người đồng hành phải hết sức thận trọng và kín đáo về những chia sẻ nội tâm của người thụ huấn. Ngay cả trong việc nhận định ơn gọi của người thụ huấn, người đồng hành không được tiết lộ những gì được nghe trong đồng hành[5] nhằm bảo đảm tự do nội tâm, sự tín nhiệm và tin tưởng nơi nhà đào tạo và người đồng hành.

Tóm lại, trong tâm hồn của mỗi người thụ huấn điều có một khoảng không tự do mà không ai có thể lấy đi được. Một khi người thụ huấn không tìm được tự do nội tâm thì họ sẽ không bao giờ tìm thấy được hạnh phúc đích thực trong đời tu và sống có trách nhiệm với ơn gọi của mình. Họ bước theo Chúa Kitô trong tâm trạng ràng buộc, gò bó khó có thể dấn thân trong đời sống cộng đoàn, đời sống cầu nguyện và sứ vụ, tham gia tích cực vào việc huấn luyện chính mình… Bài viết này nêu ra những phương thế để giúp người thụ huấn một phần nào đó tìm được sự tự do nội tâm. Tuy nhiên, tự do nội tâm « là quà tặng nhưng không của Thiên Chúa, là hoa trái của Chúa Thánh Thần, được đón nhận theo mức độ chúng ta đặt mình trong tương quan phụ thuộc đầy yêu thương vào Đấng Tạo Thành và Đấng Cứu Độ chúng ta. Đây là nơi mà sự nghịch lý của Tin Mừng biểu lộ rõ nhất, “Ai cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai mất mạng sống mình vì tôi thì sẽ tìm thấy nó” (Mt 16,25). Nói cách khác, người muốn giữ và bảo vệ tự do của mình bất cứ giá nào, sẽ mất nó; nhưng những ai sẵn sàng “đánh mất” nó bằng cách tin tưởng giao phó nó vào tay Thiên Chúa, sẽ giữ được nó. »[6]

Nt. Lucie Nguyễn Thị Thanh Lan

                             ( Dòng MTG-Qui Nhơn)


[1] Theo La Petit Larousse Grand format, 2004, p 595.

[2] Thư của Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI về vấn đề giáo dục, ngày 21 tháng 01 năm 2008.

[3] FRANÇOIS, Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng, Evangelii gaudium, 2013, số 171.

[4] FRANÇOIS, Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng, Evangelii gaudium, 2013, số 171.

[5] Theo GL, số 240 §2 : « Trong việc quyết định chấp nhận các chủng sinh tiến chức hoặc sa thải họ khỏi chủng viện, không bao giờ được hỏi ý kiến của vị linh hướng và các cha giải tội. »

[6] JACQUES Philippe, La liberté intérieure. La force de la foi, de l’espérance et de l’amour, Editions Béatitudes, 2002, theo bản dịch của linh mục Minh Anh, p. 16.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *