Hội Dòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn

TIẾN TRÌNH KHAI TÂM KITÔ GIÁO TRONG VIỆC TÌM KIẾM VÀ GẶP GỠ ĐỨC KITÔ QUA TRÌNH THUẬT ĐỨC GIÊSU ĐỒNG HÀNH VỚI HAI MÔN ĐỆ TRÊN ĐƯỜNG EMMAU (LC 24,13-35)

DẪN NHẬP

Theo Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, trình thuật Lc 24,13-35 có thể được xem là « khuôn mẫu cho việc dạy giáo lý đặt trọng tâm vào việc giải thích Thánh Kinh, mà chỉ duy Chúa Kitô mới có thể ban cho (x. Lc 24,27-28), khi chỉ cho thấy Kinh Thánh được hoàn tất nơi bản thân Người. » (Tông Huấn Verbum Domini, số 74). Với bản văn này, chúng ta có thể xây dựng nội dung của giáo lý theo nhiều chiều hướng khác nhau và nhắm đến nhiều đối tượng khác nhau. Ở đây, chúng ta sẽ tập trung phân tích sự đồng hành của Thiên Chúa trong tiến trình khai tâm Kitô giáo qua việc tìm kiếm và gặp gỡ Đức Kitô. Trước tiên, chúng ta sẽ tìm hiểu ngữ cảnh, vị trí và cấu trúc của đoạn Tin Mừng. Tiếp đến, phân tích bản văn và sau cùng áp dụng bản văn này vào tiến trình khai tâm Kitô giáo nhằm giúp người tìm kiếm Chúa đi sâu vào mối tương quan mật thiết cá vị với Chúa Giêsu và hiệp thông với cộng đoàn Kitô hữu.

1.     Ngữ cảnh, vị trí và cấu trúc của đoạn Tin Mừng
  1. 1 Ngữ cảnh chung của toàn bộ Tin Mừng Luca

Đọc những chương đầu và những chương cuối của Tin Mừng Luca, chúng ta thấy Tin Mừng của ông bắt đầu và kết thúc ở Giêrusalem, trong đền thờ (x. Lc 2,22.41-42 ; Lc 9,51- 19,48). Thánh sử Luca chú trọng đến cột móc thời gian và nơi chốn, Giêrusalem nơi ghi dấu lịch sử ơn cứu độ. Các nhà thần học cũng dựa trên cột móc này phân chia Tin Mừng của Luca thành nhiều cấu trúc khác nhau. Điển hình, nhà thần học (giáo sư Kinh Thánh) Daniel MARGUERAT[1] chia như sau :

Mở đầu (1,1-4); Thời thơ ấu của Chúa Giêsu tại Ga-li-lê, Na-da-rét (1,5-2,52); Chuẩn bị sứ vụ công khai (3,1-4,13); Rao giảng tại miền Ga-li-lê (4,14-9,50); Hành trình lên Giê-ru-sa-lem (9,51-19,27); Rao giảng tại Giê-ru-sa-lem (19,28-21,38); Bữa ăn tối cuối cùng, cuộc thương khó, cái chết và chôn cất (22,1-23,56); Sự hiện ra của Đấng Phục Sinh ở vùng Giê-ru-sa-lem (24,1-53).

Cấu trúc này gợi lên cho chúng ta có một cái nhìn tổng quát về Tin Mừng Luca. Cách phân chia cấu trúc của giáo sư Daniel nhấn mạnh đến tiểu sử của Chúa Giêsu (câu chuyện về thời thơ ấu, từ tuổi thanh niên đến cái chết của Ngài) và nhấn mạnh đến khía cạnh địa lý (bắt đầu rao giảng ở Ga-li-lê, lên Giê-ru-sa-lem chịu khổ hình, chịu chết và cũng tại Giê-ru-sa-lem Ngài hiện ra với các tông đồ và các môn đệ).

Đoạn Tin Mừng này là tường thuật duy nhất của Thánh Luca. Chúng ta không tìm thấy đoạn Tin Mừng này trong các sách Tin Mừng còn lại. Tuy nhiên, chúng ta có thể tìm thấy một âm vang trong Tin Mừng Mác-cô (x. Mc 16,12-13)- những câu này tóm tắt sự xuất hiện của hai môn đệ trên đường về miền quê, rồi rời miền quê về lại Giêrusalem để loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho những môn đệ khác.

  1. 2 .Xác định vị trí của bản văn

Bản văn Lc 24,13-35 được tìm thấy trong chương cuối của Tin Mừng Luca. Trong chương này, tác giả trình bày ba câu chuyện về Đấng Phục Sinh : Ngôi mộ trống (Lc 24,1-12); Chúa Giêsu hiện ra với hai môn đệ trên đường Emmau (Lc 24,13-35); Chúa Giêsu hiện ra với các tông đồ (Lc 24,36-53). Như vậy, bản văn chúng ta tìm hiểu nằm giữa hai đoạn Tin Mừng khác. Cụ thể :

  • Lc 24,1-12 kể lại những người phụ nữ tìm thấy ngôi mộ trống (x. câu 2-3) và câu hỏi của các thiên thần: « Sao các Bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết? » (câu 5b). Câu cuối cùng (câu 12) diễn tả không chỉ những người phụ nữ thấy ngôi mộ trống mà Phêrô cũng xuất hiện để xem sự gì đã xảy ra. Ông đi lại ngôi mộ và chỉ thấy những khăn liệm. Ông trở về nhà và rất đỗi ngạc nhiên.
  • Lc 24,13-35 nhấn mạnh đến khía cạnh thời gian [« cũng ngày hôm ấy » (câu 13), « ngay lúc ấy » (câu 33), « các ông còn đang nói » (câu 36)]. Khung cảnh của đoạn Tin Mừng này không còn giới hạn ở ngôi mộ trống nữa, có sự thay đổi về địa điểm. Ngoài ra, trình thuật này còn nêu rõ sự xuất hiện những nhân vật mới : hai môn đệ. Cảm xúc của hai ông được miêu tả đối ngược nhau: các ông rời khỏi Giê-ru-sa-lem đi đến làng Emmau với một tâm trạng buồn và thất vọng (x. câu 13-17), các ông trở về Giê-ru-sa-lem với bước chân dồn dập, đầy niềm vui và hạnh phúc (x. câu 33-35).
  • Lc 24, 36-53, thuật lại việc Chúa Giêsu hiện ra với các tông đồ. Từ câu 36, cảnh này được thay đổi, tập trung vào sự xuất hiện cuối cùng của Chúa Giêsu với nhóm mười một tông đồ đang tụ họp. Trong câu chuyện này, Lời Chúa được nhắc lại lần thứ ba : lần đầu tiên, những phụ nữ nhớ lại những điều Đức Giêsu đã nói (x. câu 6b-8); lần thứ hai, chính Chúa Giêsu nhắc lại lời của Ngài cho hai môn (x. câu 25-27) ; lần thứ ba, Chúa Giêsu nhắc lại lời của Ngài và Kinh Thánh cho nhóm mười một (x. câu 44-47b).

Tóm lại, việc tìm hiểu sơ lược chương 24 của thánh sử Luca giúp chúng ta nhận thấy có mối liên kết giữa ba trình thuật : thứ nhất, nhắc lại những sự kiện trong Kinh thánh vốn là ký ức sống động, có khả năng đốt cháy trái tim đã lịm tắt của các môn đệ ; thứ hai, tất cả những câu chuyện đều được kể về sự Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô. Tuy có sự liên kết giữa ba trình thuật nhưng trình thuật Lc 24,13-35 được xây dựng từ những nhân vật khác nhau, địa điểm và cách thức khác nhau. Ngoài ra, có sự đối lập giữa các hành vi, cảm xúc và lời nói của các nhân vật so với những câu đầu và câu cuối đoạn Tin Mừng này. Đó là lý do vì sao chọn trình thuật chương 24, bắt đầu từ câu 13 và kết thúc ở câu 35.  

2. Cấu trúc bản văn

Đối với trình thuật Lc 24,13-35, có nhiều cách phân đoạn khác nhau dựa trên những tiêu chí khác nhau. Theo tác giả Jeanne d’Arc, « Chúng ta có thể đọc đoạn văn này như một vở kịch được diễn tả qua ba hành động, mỗi hành động có một sự thống nhất về không gian. Hành động 1: con đường (câu 13-28); Hành động 2: làng Emmau (câu 29-32); Hành động 3: thành phố Giêrusalem (câu 33-35) […] Chúng ta thấy rằng mỗi hành động được tổ chức xung quanh một điểm giáo lý cụ thể : Trên đường đi: dạy giáo lý; Tại Emmau: chia sẻ bánh thánh; Tại Giê-ru-sa-lem: lời chứng nhân »[2]. Đối với giáo sư Yves Saoût, có hai cách để phân chia : « Thứ nhất là dựa vào cách ngắt câu đoạn […] thứ hai là hướng về một điểm trung tâm »[3].

Được gợi hứng từ cấu trúc của Yves Saoût, chúng ta có thể xây dựng cấu trúc bản văn theo gợi ý này. Mặc khác, theo nhận định cá nhân, câu chuyện này có những câu hỏi và câu trả lời luân phiên nhau (trò chuyện) dưới dạng trao đổi, gợi lên cho chúng ta một phương pháp phát vấn[4] trong việc dạy giáo lý, cách riêng giáo lý dự tòng. Đây là một tiến trình, nó bắt đầu từ việc làm quen- Loan báo Tin Mừng (x. câu 17a.18), đến học hỏi Kinh Thánh- Giáo lý (x. câu 25-27), rồi nhận biết Chúa Kitô-Lãnh nhận bí tích (x. câu 30. 32) và đời sống cộng đoàn- Làm chứng cho Chúa Kitô Phục Sinh (x. câu 33,35). Từ những suy nghĩ này, chúng ta có thể chia bản văn thành bốn cảnh, nhấn mạnh đến bốn thời kỳ trong tiến trình khai tâm Kitô giáo[5].

a. Thời gian tiền dự tòng- Làm quen và loan báo Tin Mừng (câu 13-24)

  • Hai môn đệ rời Giêrusalem (câu 13-14)
  • Chúa Giêsu đến gần và đồng hành với các ông (câu 15)
  • Mắt các ông bị che khuất không nhận ra Người (câu 16)
  • Chúa Giêsu gợi chuyện với các ông (câu 17)
  • Cléopas trả lời (câu 18)
  • Chúa Giêsu lắng nghe và đồng cảm với nỗi buồn của các ông (câu 19a)
  • Hai môn đệ kể mối quan tâm của các ông (câu 19b-24)
  • Cuộc sống của Chúa Giêsu (câu 19b-21)

–Lời kể của các phụ nữ (câu 22- 23)

–Lời kể của nhóm các ông (câu 24)

b.Thời gian dự tòng- Học hỏi Kinh Thánh và giáo lý (câu 25-27)

  • Lịch sử cuộc đời Chúa Giêsu- Tân Uớc (câu 25-26)
  • Giải thích lời của Môsê và các ngôn sứ- Cựu Ước (câu 27)

c. Thời gian thanh tẩy và soi sáng- Nhận biết Chúa Giêsu và lãnh nhận bí tích (câu 28-32)

  • Hai môn đệ mời Chúa Giêsu ở lại với các ông (câu 28-29a)
  • Chúa Giêsu vào nhà và ở lại với các ông (câu 29b)
  • Chúa Giêsu bẻ bánh (câu 30)
  • Mắt các ông mở ra và nhận biết Người (câu 31a)
  • Chúa Giêsu biến mất trước mặt các ông (câu 31b)
  • Hai môn đệ được ánh sáng Lời Chúa soi dẫn (câu 32)

d.Thời gian nhiệm huấn- Đời sống cộng đoàn và chứng nhân (câu 33-35)

  • Hai môn đệ lên đường trở về Giêrusalem (câu 33)
  • Lời khẳng định Chúa đã Phục Sinh : hiện ra với ông Simon (câu 34)
  • Chứng nhân đức tin của hai môn đệ (câu 35)

Qua cách phân chia bản văn theo bốn móc thời gian như trên, chúng ta thấy nút thắt trong tâm trí của hai môn đệ được tháo gỡ. Nhờ ánh sáng Lời Chúa và hành động bẻ bánh của Chúa Giêsu, hai ông nhận ra Đấng Phục Sinh và làm chứng cho Ngài. Điều này sẽ được thể hiện rõ hơn qua việc phân tích bản văn sau đây.

3.  Phân tích bản văn

Trước khi phân tích bản văn, chúng ta quan sát tác giả sử dụng từ vựng như thế nào. Việc quan sát này giúp chúng ta hiểu được phần nào ý đồ của tác giả khi viết tường thuật của mình.

3.1 Từ vựng

Có nhiều động từ diễn tả sự mặc khải và diễn tả sự nghe nhìn : « trò chuyện, nói chuyện » 3 lần (c.14, 15, 32), « trả lời, thưa » hai lần (c.18, 19b), « thấy, gặp » 2 lần (c.24, 33), « nhận ra » 3 lần (c.16, 31, 35), các động từ « bàn tán, trao đổi, thuật lại » trong các câu (15, 17, 35).

Một chuỗi các động từ gợi lên sự chuyển động : « đi đến, tiến đến, đi, dừng lại, đứng dậy, quay trở lại » (c.13, 15, 17, 28,33) giúp chúng ta hình dung hành trình của hai môn đệ là « chuyến đi khứ hồi » và cũng ngụ ý diễn tả sự chuyển động trong tâm hồn, sự hoán cải của các ông.

Cặp từ « Sách Thánh hay Kinh Thánh » chỉ được lặp lại hai lần (c.27, 32) và những động từ chỉ xuất hiện một lần : « cầm lấy, dâng lời, bẻ ra, trao cho » nhưng có vai trò rất quan trọng và là yếu tố cần thiết trong việc vén mở giúp hai môn đệ nhận ra Chúa Giêsu đã sống lại.

Tất cả các câu « Những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay » (c.18), « Những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi » (c.21), « Những gì đã xảy ra dọc đường » (c.35) là một lời nhắc nhớ về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Đây là một biến cố lịch sử mà mọi người đều biết; biến cố này bị đóng khung bởi sự thiếu niềm tin của các môn đệ và các ông được vén mở bởi nhớ lại ký ức đã sống với Chúa Giêsu và hành động bẻ bánh của Ngài.

Cần quan sát cách dùng tên và danh hiệu của Chúa Giêsu : Giêsu Na-da-rét, một ngôn sứ (x. c.19), « Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en » (c.21), « Chúa » (c.35) và quan sát hành động của Ngài : « Chính Đức Giêsu tiến đến gần và đi cùng họ » (c.15), « Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ? » (c.17a), « Chuyện gì vậy ? » (c. 19a), « Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ? » (c.26), và « Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ » (c.30b). Từ việc trích dẫn này, chúng ta có thể suy luận hai điều.

 

  • Thứ nhất, liên quan đến hai môn đệ : Chúng ta thấy các ông có sự tiến triển trong việc nhận biết Chúa Giêsu. Các ông bắt đầu biết Ngài bằng tên của một người như bao người khác « Giêsu », một tên gọi gắn liền với gia đình và nơi mà Chúa Giêsu sinh sống « Na-da-rét ». Sau đó, các ông xem Chúa Giêsu như một nhà tiên tri, một người giải phóng dân tộc như những nhà cầm quyền chính trị. Cuối cùng, các ông tin và nhận ra Đức Giêsu đã sống lại. Các ông xác tín bản tính của Chúa Giêsu là « Chúa ».
  • Thứ hai, liên quan đến Chúa Giêsu : Ngài là mẫu người mô phạm dẫn đưa các môn đệ đến với đức tin qua cách nói chuyện thân thiện, gợi mở từ từ bằng những câu hỏi tiệm tiến, lắng nghe và đồng hành.

3.2 Phân tích bản văn

a. Làm quen và loan báo Tin Mừng (c.13-24)

Qua trình thuật những câu 13-24, chúng ta thấy tác giả nhấn mạnh đến hai nhân vật chính. Hai môn đệ rời cộng đoàn và đi về làng quê Emmau. Các ông nói chuyện và thảo luận cùng nhau về cái chết của Chúa Giêsu (x. câu 13b, 14a, 15a, 17a). Các ông không tin về sự Phục Sinh của Thầy mình. Chúa Giêsu tiến đến gần và cùng đi với các ông (x. câu 15), nhưng các ông không nhận ra Người (x. câu 16). Trường hợp của các ông giống như trường hợp của Thánh Phaolô, ông bị mù trên đường đến Damas (x. Cv 9,3-8) và cũng giống như hành trình của các dự tòng từng bước khám phá Lời Chúa và nhận biết Chúa.

 

Sự không nhận biết và không hiểu về biến cố Phục Sinh của hai môn đệ là một trong những vấn đề nan giải khiến Chúa Giêsu phải can thiệp. Ngài hỏi các ông : « Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ? » (c.17a). Câu hỏi này là cách thức Chúa Giêsu dùng để làm quen và bắt đầu cuộc nói chuyện với các ông. Câu hỏi này còn gợi lên sự đồng cảm của Chúa Giêsu đối với các ông và chạm đến trái tim của các ông. « Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu » (c.17b). Thay vì trả lời câu hỏi của Chúa Giêsu, một trong các môn đệ nhận thấy Ngài là một người lạ, là người duy nhất không biết chuyện gì đã xảy ra (x. câu 18). Chúa Giêsu tiếp tục hỏi: « Chuyện gì vậy ? » (c.19a). Câu hỏi này có thể là chìa khóa để mở lòng hai môn đệ kể ra những ẩn khuất. Quả thật, hai ông kể lại toàn bộ cuộc đời của Chúa Giêsu. Các ông kể tóm tắt toàn bộ sứ mệnh của Chúa Giêsu (x. câu 19b-21). Qua lời kể, có vẻ như các ông biết tất cả mọi thứ nhưng thật ra các ông không hiểu gì.

Tường thuật còn cho thấy hai ông đưa ra một lời chứng gián tiếp dựa trên lời kể của một số phụ nữ và một số bạn cùng nhóm của các ông về ngôi mộ trống và sự Phục Sinh (x. câu 22-24). Lời chứng của các phụ nữ, trong các câu 22-23 tương ứng với các câu 2-11, là sự lặp lại lời của các thiên thần khẳng định rằng Chúa Giêsu còn sống. Ngoài ra, lời chứng của các ông, trong câu 24 tương ứng với câu 12, được xác minh bởi những gì các phụ nữ nói nhưng các ông không nhìn thấy Đấng Phục Sinh. Làm thế nào để các môn đệ nhận ra và gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh? Đây không phải là sự hiểu biết về kiến ​​thức của một bài học mà là đức tin. Chúa Giêsu ban cho các ông ánh sáng nào để các ông hiểu những gì các ông đang nói và những gì đã xảy ra kể từ « ngày thứ ba » ?

b. Học hỏi Kinh Thánh-Giáo lý (c. 25-27)

Chúa Giêsu làm cho hai môn đệ hiểu tất cả những gì các ông vừa kể bằng cách quy chiếu về Kinh Thánh. Ngài mở ra cho các ông sự hiểu biết đích thật về Kinh Thánh. Trước tiên, Ngài đề cập đến lời loan báo của các ngôn sứ (x. câu 25). Sau đó, Ngài vén mở về cuộc khổ nạn, cái chết và sự Phục Sinh của Ngài (x. câu 26). Ngài gợi cho hai môn đệ nhớ về Lời tiên báo của Người[6]. Ngài muốn biến đổi cái nhìn và trái tim của các ông để giúp các ông hiểu sứ điệp cứu độ và gặp gỡ Đấng Phục Sinh. Chúa Kitô bị đóng đinh và tôn vinh, hoàn tất lời loan báo của ngôn sứ và đưa ra một minh chứng hùng hồn, Ngài đang sống. Thông qua việc chú giải Kinh Thánh, Chúa Kitô tỏ mình ra và lời Kinh Thánh được ứng nghiệm.

Thật vậy, con người chỉ có thể hiểu Kinh Thánh và nhận ra Đức Kitô bằng cái nhìn đức tin. Như Alois STÖGER nói : « Ai không biết Kinh Thánh thì không biết Đấng Kitô ; ai không biết Đấng Kitô thì không thể biết Kinh Thánh. Ai tin rằng Chúa Giêsu Na-da-rét là Đấng Thiên Sai được Thiên Chúa hứa ban và tin Ngài là Con Thiên Chúa, Đấng Phục Sinh, Người được tôn vinh thì mới có khả năng hiểu được ý nghĩa của Kinh Thánh.[7] »

Sau đó, Chúa Giêsu giải thích những lời của Môi-sen và các tiên tri trong Cựu Ước (x. Câu 27). Ngài giải thích, chú giải các bản văn Cựu Ước để cho hai môn đệ thấy những bản văn này có sự nối kết và làm chứng cho những gì Ngài đã nói. Mục đích của Ngài là để các ông tin vào sự Phục Sinh của Ngài và gặp được Ngài. Nghe lời giải thích Kinh Thánh, các môn đệ có biến đổi suy nghĩ không ? Kinh Thánh có bắt đầu làm sáng tỏ lòng các ông không ?

c. Nhận biết Chúa Giêsu và lãnh nhận bí tích (c.28-32)

Dường như đức tin của hai môn đệ bắt đầu biến chuyển. Các ông biến đổi cách nhìn và mời Chúa Giêsu ở lại với các ông (x. câu 29). Mọi thứ được thay đổi khi các ông vào bàn ăn, « Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ » (c.30b). Ở đây, chúng ta thấy có một sự đảo ngược về vai trò của chủ nhà và khách mời : không phải Chúa Kitô mời hai môn đệ đến nhà của Ngài mà chính hai môn đệ là người mời Chúa Kitô; tại sao Chúa Kitô đóng vai trò là chủ gia đình ? Nếu chúng ta đọc Lc 22, 11-12 nơi Chúa Giêsu chuẩn bị lễ Vượt Qua, thì người chủ gia đình mới là người chủ trì bữa ăn.

Cũng trong cảnh này, chúng ta thấy rằng những cử chỉ và lời nói của Chúa Giêsu tại bàn ăn đã mở mắt hai môn đệ và soi chiếu các ông nhận ra Người (x. câu 31a). Điều đáng ngạc nhiên là các ông không thuộc nhóm Mười Hai, những người tham dự bữa Tiệc Ly với Chúa Giêsu (x. Lc 22,14). Làm thế nào các ông nhận ra Chúa Giêsu qua những cử chỉ và những lời này? Chúng ta có thể tìm thấy câu trả lời bằng cách đọc lại Lc 9, 12a-16. Nói cách khác, trong sứ vụ của Chúa Giêsu tại Galilê, Ngài đã thực hiện những cử chỉ này dưới hình thức của bữa tiệc Thánh Thể. Cử chỉ Thánh Thể đã gợi nhớ và mở mắt tâm hồn các ông để nhận ra Người.

Sau khi hai môn đệ nhận ra Chúa Giêsu, cũng chính là lúc Chúa Giêsu biến mất (x. câu 31b). Điều này chứng tỏ rằng Chúa Giêsu thực sự sống lại và đang sống. Người thay đổi diện mạo, sự vắng mặt thể xác của Người nhường chỗ cho niềm tin. Hai môn đệ chuyển đổi từ cái nhìn thể lý đến cái nhìn đức tin. Thật vậy, từ kinh nghiệm đọc lại tất cả những gì đã xảy ra dọc đường và trong bữa ăn, hai môn đệ tin vào Chúa Giêsu Phục Sinh. Các ông nói với nhau : « Dọc đường khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ? « (c.32). Trái tim của các ông được sưởi ấm bởi vì các ông đã trải qua thử thách của tang tóc và cô quạnh ; bởi vì các ông nhận ra và tin Chúa Giêsu thật sự đang sống. Niềm vui nội tâm này đã thúc bách hai môn đệ ra đi, bắt đầu đi con đường ngược lại : Các ông trở về điểm khởi hành bên nhóm mười một để làm chứng về cuộc gặp gỡ của các ông với Đấng Phục Sinh mà các ông thấy tận mắt. Các ông làm chứng như thế nào ?

d. Đời sống cộng đoàn và chứng nhân (c.33-35)

Hai ông quay trở lại Giêrusalem ngay lập tức trong đêm để loan báo tin vui : Chúa Kitô đã sống lại và đang sống. Các ông không thể đợi sáng hôm sau, các ông không thể giữ cho riêng mình niềm hạnh phúc vô biên này: « Họ gặp nhóm mười một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó » (c.33). Các ông còn chưa loan báo sự Phục Sinh của Chúa Kitô, thì nhóm mười một và những người khác khẳng định với các ông :  « Chúa đã chỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Simon » (c.34). Cũng vậy, các ông kể những gì đã xảy ra dọc đường (x. câu 15-27), những gì các ông đã nhận thấy ở bàn ăn (x. câu 28-32) và nhất là kể lại kinh nghiệm được gặp gỡ thân tình với Đấng Phục sinh.

Nhìn tổng thể của việc phân tích bản văn (Lc 24,13-35), tác giả cho chúng ta thấy Chúa Giêsu đã dẫn dắt hai môn đệ tham dự vào mầu nhiệm vượt qua như thế nào ? Bắt đầu từ cuộc thảo luận bằng những câu hỏi để làm quen, sau đó đến việc học hỏi Kinh Thánh, rồi nhận biết Đức Kitô, đi vào mối tương quan với Ngài và cuối cùng trở thành chứng nhân loan báo Tin Mừng. Nếu đức tin của hai môn đệ được gắn kết với kinh nghiệm lắng nghe, học hỏi Kinh Thánh và cử chỉ bẻ bánh Thánh Thể, thì đức tin của chúng ta cũng được nuôi dưỡng với kinh nghiệm này.

Tóm lại, đây là một trình thuật lý tưởng cho việc huấn giáo, đặc biệt là áp dụng cho tiến trình khai tâm Kitô giáo. Cuộc gặp gỡ của Chúa Kitô Phục Sinh và hai môn đệ làng Emmau diễn tả kinh nghiệm Kitô giáo. Điều cốt lõi của đức tin là đi vào mối tương quan hiệp thông sâu xa với Chúa Giêsu, đón nhận Ngài và nên men muối cho trần gian. Với phương pháp sư phạm đặt Lời Chúa và Thánh Thể làm trung tâm của việc huấn giáo, Chúa Giêsu đã hướng dẫn hai môn đệ từ thất vọng đến xác tín vào niềm tin của mình, từ mất phương hướng và ý nghĩa sống đến mạnh mẽ làm chứng cho Đức Kitô Phục Sinh.

3.3 Tiến trình khai tâm Kitô giáo trong việc tìm kiếm và gặp gỡ Đức Kitô

Mục đích của phần này là xác định mối dây liên kết giữa tường thuật Lc 24, 13-35 và tiến trình khai tâm Kitô giáo qua phương pháp sư phạm giảng dạy của Chúa Giêsu.

a. Làm quen và loan báo Tin Mừng- Thời gian tiền dự tòng

Hành động đầu tiên của Chúa Giêsu : làm quen với hai môn đệ bằng cách gặp gỡ và đi cùng với các ông. Sau đó, Chúa Giêsu bắt chuyện với các ông (x. c.17 và 19a) để các ông chia sẻ cuộc sống đời thường và đón tiếp các ông với những gì « họ là ». Thông qua cách này, hai môn đệ đã kể tất cả những gì các ông biết và những gì các ông nghe từ các nhân chứng. Đây là phương pháp sư phạm xuất sắc mà các giáo lý viên cần học hỏi để giúp các dự tòng bước đi cách tiệm tiến trong hành trình đức tin. Vai trò quan trọng của giáo lý viên trong thời gian tiền dự tòng[8] là dành thời gian để làm quen, đón tiếp, lắng nghe và loan báo Tin Mừng.

Ngày nay, nhiều người xin gia nhập Kitô giáo thuộc các lứa tuổi và hoàn cảnh sống khác nhau. Cho nên, « cần phải tạo cơ hội cho những người này trình bày cuộc sống và lịch sử cá nhân của họ, lắng nghe những nguyện vọng của họ, đón nhận những khám phá ban đầu của họ, đồng thời tìm kiếm sự chờ đợi, ước muốn của Thiên Chúa đã được Chúa Thánh Thần khai sáng trong họ trước khi bắt đầu công việc dạy giáo lý.[9] » Đây không phải là vai trò của giáo lý viên sao ? Thật vậy, mặc dầu những người xin được rửa tội chưa tham gia giáo lý dự tòng trong thời gian tiền dự tòng, nhưng họ cần được đồng hành. Đồng hành để biết những ước muốn và khát vọng tâm linh ngõ hầu giúp họ lựa chọn và xác định hướng đi rõ ràng. Đây là một hành trình của đức tin và sự hoán cải ban đầu. Hãy giúp họ mở lòng đón nhận ơn đức tin, thể hiện ý chí muốn bước theo Chúa Kitô và nhận phép Rửa một cách nghiêm túc (Nghi thức gia nhập Kitô giáo dành cho người lớn (NGKL), x. số 66).

b. Học hỏi Kinh Thánh và Giáo lý- Thời gian dự tòng

Sau khi gặp gỡ hai môn đệ, Chúa Giêsu dẫn các ông đến đón nhận đức tin bằng cách giảng dạy và giải thích Kinh Thánh. Lời Chúa là trung tâm của cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và các ông. Lời Chúa làm vang dậy và thức tỉnh tâm hồn các ông. Lời Chúa trao ban ánh sáng để giúp các ông nhận biết, gặp gỡ Chúa Kitô và mời gọi các ông đáp trả cách cá vị.

Trong thời gian dự tòng, một trong những yếu tố mà Giáo Hội mong muốn người dự tòng khám phá cách riêng là mầu nhiệm cứu độ và hiểu ý nghĩa của mầu nhiệm này thông qua những nghi thức và cử hành Lời Chúa. Mầu nhiệm này được hoàn tất bởi Chúa Kitô và nó đã được loan báo từ trước. Chính vì thế, trong bản văn Lc 24,13-35, Chúa Giêsu « giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh » (c.27). Giáo huấn mà Chúa Giêsu dạy cho hai môn đệ được dựa trên Kinh Thánh xung quanh lời của Môi-sen và các tiên tri, dựa trên các công việc và lời nói của Ngài, cái chết và sự Phục Sinh của Ngài. Cũng vậy, để hướng dẫn dự tòng xác tín đức tin vào Chúa, đi vào mối hiệp thông với Chúa Kitô, không có cách nào khác ngoài việc đọc và học hỏi Kinh Thánh.

Kinh Thánh tự bản chất là Lời được « Thiên Chúa linh hứng » (2Tm3,16). Lời này có sức mạnh làm vang dội tâm hồn dự tòng và làm cho họ đi vào cuộc đối thoại với Thiên Chúa thông qua việc cử hành Lời Chúa . Ánh sáng của Lời Chúa chiếu soi và dẫn đưa họ nhận biết Đức Kitô. Có thể nói rằng giáo lý là một hoạt động giao tiếp giữa Thiên Chúa và con người hơn là nhận lãnh một thông điệp. Nghĩa là, « Chúa Cha trên trời bằng tất cả lòng trìu mến đến gặp gỡ con cái mình và ngỏ lời với họ. » (Hiến Chế Dei Verbum, số 21) Chúng ta có thể nói rằng hành trình đức tin bắt đầu bằng việc lắng nghe lời Chúa, tuyên xưng đức tin và cử hành Bí tích Thánh Thể.

c. Nhận biết Chúa Giêsu và lãnh nhận bí tích- Thời gian thanh tẩy và soi sáng

Bằng cử chỉ bẻ bánh, Chúa Giêsu biến đổi cái nhìn của hai môn đệ. Hành động của Chúa đã củng cố lòng tin của các ông, Ngài vén mở chính mình và làm cho các ông nhận biết Ngài. Nói cách khác, các ông nhận ra và gặp gỡ Đấng Phục Sinh nhờ vào sự mặc khải của Đức Kitô. Mặt khác, các ông cũng sẵn sàng thanh tẩy tâm trí và để cho Lời Chúa thức tỉnh tâm can.

Do đó, để thật sự gặp Chúa Kitô, các dự tòng phải « khao khát gắn bó mật thiết với Đức Kitô và Giáo hội » (NGKL, số 149). Họ được mời gọi dấn thân dứt khoát cho Thiên Chúa trong tinh thần thanh luyện và mời gọi trở nên như Chúa Kitô, Người « là nước hằng sống, ánh sáng, Đấng Phục Sinh và sự sống » (NGKL, số 151) . Do đó, có thể nói thời gian thanh tẩy và soi sáng là thời gian « sát hạch », đòi hỏi phải trở nên khác đi, loại bỏ tận căn nhờ vào ánh sáng của Lời Chúa soi dẫn.

d. Đời sống cộng đoàn và chứng nhân-Thời gian nhiệm huấn

Niềm vui gặp gỡ Chúa Kitô Phục Sinh thúc đẩy hai môn đệ trở về hội nhập với cộng đoàn và làm chứng về những gì các ông nhận ra Chúa Kitô bởi đức tin.

Khai tâm Kitô giáo không giới hạn ở thời điểm cử hành các bí tích. Nó mở ra một thời điểm khác : thời gian nhiệm huấn « củng cố sống kinh nghiệm các bí tích và hòa nhập trong đời sống cộng đoàn » (HDTQ, số 88). Cũng vậy, người tân tòng được tái sinh vào đời sống mới trong đức tin. Họ sống kinh nghiệm các bí tích được cử hành trong đêm vọng Phục Sinh. Chính họ phải sống chứng nhân những gì họ đã lãnh nhận và những gì khơi dậy trong lòng họ. Tuy nhiên, giáo lý viên, cha mẹ đỡ đầu và các mục tử tiếp tục đồng hành với họ để giúp họ hội nhập cộng đoàn và sống kinh nghiệm đức tin cộng đoàn của đời sống Kitô hữu (NGKL, x. số 238-239), cũng như giải đáp những khúc mắc để giúp họ đào sâu đức tin ngày một trưởng thành hơn.

LỜI KẾT

Tiến trình khai tâm Kitô giáo là một tiến trình nhấn mạnh nhiều đến chiều kích cá nhân của từng dự tòng trong việc tìm kiếm và gặp gỡ cá vị với Đức Giêsu, và trở nên chứng nhân cho Tin Mừng. Tuy nhiên, người dự tòng không thể tự mình bước đi trên hành trình này, nếu không có ơn ban của Chúa Thánh Thần và sự đồng hành của cộng đoàn Giáo Hội. Một trong những nguồn mạch mà người đồng hành và dự tòng cần kín múc là Lời Chúa. Vì « Lời Chúa sống động và mạnh mẽ, có khả năng chuyển đổi trái tim và dẫn chúng ta trở về với Chúa. »[10] Do đó, giáo lý viên cần ý thức tầm quan trọng của Lời Chúa, cần đọc, lắng nghe, phân tích, đào sâu kỹ lưỡng Lời Chúa để Lời Chúa được hiện tại hóa trong các giờ giáo lý và để lời huấn giáo được cụ thể hóa trong đời sống thường ngày. Nhờ vậy, có thể nhận định rằng tiến trình khai tâm Kitô giáo là hành trình thiêng liêng giúp cho dự tòng từng bước được « bén rễ sâu và xây dựng đời mình trên nền tảng là Đức Kitô Giêsu » (Cl 2, 7). Thiết nghĩ rằng, đây cũng là hành trình đức tin của mỗi người Kitô hữu chúng ta. Nhờ vào nền tảng đức tin vững chắc « bén rễ sâu nơi Đức Kitô », chúng ta kiên cường làm chứng cho đức tin, góp phần loan báo Tin Mừng và nên men muối cho con người trong ngữ cảnh xã hội hôm nay.

                                                                                    NT. Nguyễn Thị Thanh Lan

                                                                                       (Dòng MTG. Qui Nhơn)


[1] Daniel MARGUERAT, « Introduction au Nouveau Testament, Son histoire, son écriture, sa théologie », Gevève, Labor et Fides, 2003, 3ème éd., p.86-88.

[2] Jeanne d’Arc, Mes pèlerins d’Emmaüs, Paris, Cerf, 1977, p.49-50.

[3] Yves SAOUT, Évangile de Jésus-Christ selon saint Luc, Paris, Cerf, 2006, p.104- 105.

[4] Là phương pháp đặt câu hỏi để khơi gợi, dẫn dắt người nghe suy nghĩ và từng bước cảm nhận, khám phá ra chân lý.

[5] Theo sách Nghi thức khai tâm Kitô giáo cho người lớn, năm 1972, bốn thời gian dành cho việc khai tâm Kitô giáo đó là : thời gian chuẩn bị dự tòng (tiền dự tòng), thời gian dự tòng chính thức, thời gian thanh tẩy và soi sáng, thời gian nhiệm huấn (khai tâm). Đan xem vào mỗi thời gian là một giai đoạn. Giai đoạn 1 : Người dự tòng muốn tòng giáo và Hội Thánh đón nhận với nghi thức tiếp nhận người dự tòng. Giai đoạn 2 : Người dự tòng có lòng tin khá vững vàng và được chấp nhận để chuẩn bị lãnh nhận các bí tích khai tâm Kitô giáo với nghi thức tuyển chọn. Giai đoạn 3 : Lãnh nhận các bí tích với nghi thức cử hành các bí tích.

[6] X. Lc 9,22 ; 13,33 ; 17,25 ; 22,37 hay Mt 16,21 hay Mc 9,1

[7] Aloïs STÖGER, « L’évangile selon saint Luc », volume III, Paris, Desclée, 1973, p.179.

[8] Selon le Rituel de l’Initiation Chrétienne des Adultes  (RICA), la première évangélisation est le temps de l’accueil, d’écoute ; le temps dans lequel l’Évangile se présente… (cf. n0 67-68).

[9] Conférence des évêques de France, Texte national pour l’orientation de la catéchèse en France et Principes  d’Organisation, Paris, Bayard/ Cerf, Fleurus-Mame, 2006, p. 47.

[10] Đức Thánh Cha Phanxicô, Sứ điệp mùa chay năm 2017.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *