Hội Dòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn

“CỞI DÉP”

I. DẪN NHẬP: 

Thế giới đang trên đà tiến triển về nhiều phương diện như khoa học, kỹ thuật, công nghệ.. dần dần đã hình thành nền kinh tế dựa vào tri thức. Quá trình phát triển này đã kéo theo nhiều vấn đề, ảnh hưởng xấu đến nền văn hóa, nhận thức của con người bị sai lệch để lại bao nỗi bất ổn, con người đang ngập chìm trong lối sống vô cảm và nghèo nàn tình yêu. Dường như lòng nhân ái, tình thương cảm đang dần dần bị quên lãng, phẩm giá con người không được trân trọng đúng mức.Với một thời đại đã bị tục hóa, hằng ngày chúng ta chứng kiến nhan nhản các vụ giết người, khủng bố, tệ nạn xã hội, phá thai, ly dị, lừa dối, lường gạt nhau vì lợi nhuận của đồng tiền…Trong khi đó,thái độ sống dửng dưng, vô cảm, chủ nghĩa “mackeno” lại được biện minh là vì tôn trọng tự do cá nhân, trân trọng khoảng không gian riêng tư của mỗi người.

Đứng trước thực trạng đó, với ảnh hưởng của một xã hội mà con người đi tìm cái tự do điên rồ,để rồi họ xem đó là lẽ sống cho chính bản thân mình. Và cách nào đó, nó ngấm ngầm len lõi rất tinh vi vào sinh hoạt cộng đoàn của người tu sĩ khiến họ sống bên nhau, sống gần nhau nhưng không hiểu nhau, không cảm thông, không đón nhận, không chấp nhận nhau với những nét rất riêng biệt.Vì thế, đời sống của người tu sĩ trong cộng đoàn gặp rất nhiều khó khăn, thử thách khi “đồng hành” cùng với anh chị em giáo dân với việc mục vụ tông đồ, và với từng anh chị em tu sĩ trong đời sống cộng đoàn của mình. Do vậy, Đức Giáo Hoàng Phanxicô, với tư cách là vị Cha chung của Giáo hội thấy rõ những thách đố, trở ngại của con cái mình, Ngài đã nói: “ Hội Thánh sẽ phải dẫn đưa mọi người – linh mục, tu sĩ và giáo dân – vào trong “nghệ thuật đồng hành” này, nó dạy chúng ta biết cởi dép khi đứng trên nên đất thánh thiêng của người khác(Xh 3,5)[1].

Dưới cái nhìn của một tu sĩ đang sống giữa cộng đoàn, tôi xin trình bày cảm nhận của mình về ý nghĩa hàm chứa trong câu nói trên của Đức Thánh Cha. Để như môt bước dừng lại, giúp tôi nhìn thật đúng, thật sâu ý nghĩa đời sống cộng đoàn với hành trình thánh hiến trong ân sủng của Thiên Chúa. Mà theo Đức Thánh Cha thì điều cần thiết nhất trong đời sống cộng đoàn là mỗi người phải vào trong “nghệ thuật đồng hành”, nhưng điều kiện tiên quyết để tham gia nghệ thuật ấy, là hành vi “cởi dép khi ta đứng trên vùng đất thánh thiêng của người khác”. Vậy, tôi phải “cởi dép” như thế nào trong “nghệ thuật đồng hành” với mỗi chị em trong cộng đoàn tôi đang sống? Nên chăng lời dạy trên của Đức Thánh Cha có giúp tôi sống tốt hơn trong đòi sống cộng đoàn tu trì hôm nay?

II. NỘI DUNG: 

  1. Hiểu như thế nào về lời dạy trên đây của Đức Giáo Hoàng Phanxicô ?

Khởi đi từ bối cảnh trong “Evangelii Gaudium” Niềm vui Tin Mừng là Tông huấn đầu tiên của Đức Giáo Hoàng Phanxicô được công bố trong ngày kết thúc Năm Đức Tin, tại quảng trường thánh Phêrô (Rôma) và được chính thức giới thiệu vào ngày thứ Ba 26-11-2013.Với lời dạy:“Hội Thánh sẽ phải dẫn đưa mọi người – linh mục, tu sĩ và giáo dân – vào trong ‘nghệ thuật đồng hành’ này, nó dạy chúng ta biết cởi dép khi đứng trên nền đất thánh thiêng của người khác” (xem. Xh 3, 5).

Đức Thánh Cha Phanxicô muốn rằng Hội Thánh sẽ phải dẫn đưa mọi người vào “nghệ thuật đồng hành”[2]. Khi nói đến “nghệ thuật đồng hành – art of accompaniment” đặt trong ngoặc kép,có lẽ Đức Thánh Cha muốn nói một sự đồng hành đạt tới một cấp độ nào đó để có thể được coi như một loại hình nghệ thuật, nghĩa là cần có sự khéo léo, uyển chuyển, kỹ năng sáng tạo, nhạy bén con tim, cách thức gợi lên cảm thụ về cái đẹp (thẩm mỹ, thánh thiện), phương thế kích thích tư duy, cảm xúc, niềm tin, hay ý tưởng nơi một người…Đồng thời, «Nghệ thuật đồng hành dạy chúng ta biết cởi dép khi đứng trên nền đất thánh thiêng của người khác (xem Xh 3,5). Bước chân đồng hành này phải có nhịp đều và vững vàng, phản ánh thái độ gần gũi và cái nhìn cảm thông của chúng ta, giúp chữa lành và khích lệ sự tăng trưởng trong đời sống Kitô giáo»[3].Như thế, ta có thể hiểu rằng Đức Thánh Cha muốn nhắm đến đời sống cộng đoàn, mà ở đây, Hội thánh phải là người dẫn đầu trong “nghệ thuật đồng hành”. Thực tế cuộc sống có nhiều điều nghịch lý, nhiều ám ảnh và bệnh hoạn, thì việc giáo dục đức tin và hướng dẫn người Kitô hữu đến gần Thiên Chúa cũng quan tâm đến nghệ thuật đồng hành tâm linh.Và các cộng đoàn tu trì và các nhà hoạt động mục vụ khác có thể hiện thực hoá hương thơm sự gần gũi và cái nhìn thân mật của Đức Kitô.

Cũng trong lời dạy trên, Đức Thánh Cha có nhắc đến hình ảnh “cởi dép khi đứng trên nền đất thánh thiêng của người khác” bắt nguồn từ truyền thống Cựu ước, khi Môsê được Thiên Chúa tỏ mình: “Thiên Chúa thấy ông lại xem, từ giữa bụi gai Người gọi ông: “Môi-sen, Môi-sen”. Ông thưa: “Dạ tôi đây!”.Chúa nói: “Ngươi đừng đến gần đây, hãy cởi dép ở chân ra, vì chỗ ngươi đang đứng là nơi thánh.”(Xh 3, 4-5). Có thể nói,nơi nào có sự hiện diện của Thiên Chúa, nơi đó là đất thánh, cho dù nơi đó là rừng núi âm u thác ghềnh hay trên biển cả bát ngát bao la, cho dù nơi đó là những mái tranh nghèo xơ xác hay những vương cung thánh đường lộng lẫy cao sang, cho dù nơi đó là cuộc đời của người dân quê mộc mạc chất phát hay của một ông vua, ông tổng thống … Bất cứ nơi nào có Chúa hiện diện, nơi đó là đất thánh. Bên cạnh đó, đất thánh không chỉ là vùng đất Do Thái – Palestine, nơi Thiên Chúa đã một lần hiện diện qua thân phận con người của Đức Giêsu. Đất thánh cũng không chỉ là các đền thờ, các nhà nguyện; các thánh đường… Nhưng đất thánh còn là thân thể; là con tim; là tâm hồn và là cung lòng cao qúy nhất của mỗi con người chúng ta. Nơi đó Thiên Chúa cũng hiện diện và ngự trị.

Quả thật, khi nói đến vùng đất thánh của người khác, ta có thể hiểu đó là nơi dành riêng cho một đất nước, một dân tộc, một tôn giáo, một nền văn hóa,… Không những thế, nó còn là nơi dành riêng cho một người, là những gì thuộc riêng về một người mà bất cứ ai cũng không có quyền xúc phạm. Vậy,nếu đồng hành là cùng chung bước, là cùng hội cùng thuyền, là cùng nhau làm, cùng nhau sống và sống “cho vừa lòng nhau” với một con tim biết yêu thương, chia sẻ cho nhau;thì đồng hành cũng phải là nghệ thuật của sự cởi dép ở chân ra, để đến với mọi người trong sự tôn trọng những cá biệt. Nói như vậy có mâu thuẫn lắm không,khi Đức Thánh Cha nói: “Nghệ thuật đồng hành dạy chúng ta biết cởi dép khi đứng trên nền đất thánh thiêng của người khác (xem Xh 3,5)”. Ta có thể thực hiện lời dạy này được không khi vừa phải đồng hành cùng nhau nhưng và phải tôn trọng vùng đất thánh thiêng của nhau? Để rõ hơn, chúng ta cùng tìm hiểu ý nghĩa của “Nghệ thuật Đồng hành” và việc “cởi dép” trước vùng đất thánh của người khác trong đời sống cộng đoàn.

2.  Đồng hành là một nghệ thuật .

  Hạn từ “đồng hành” trong việt ngữ (được dịch từ tiếng Anh, danh từ accompaniment hoặc động từ là accompany tương ứng trong tiếng pháp là accompagnement và accompagner)[4] được sử dụng khá nhiều trong đời sống xã hội. [5 ]. Gần đây trong đời sống Giáo Hội và trong nhiều văn kiện của Giáo Hội cũng sử dụng rộng rãi hạn từ nầy[6]. Chúng ta phải nhìn nhận rằng sự đồng hành Kitô giáo hay đồng hành thiêng liêng không phải là việc mới mẻ trong Giáo Hội. Thực vậy, «việc tư vấn tâm linh đã được thi hành từ buổi ban đầu của Giáo Hội cho tới ngày hôm nay. Do đâu mà đồng hành trở thành một nghệ thuật? Và Đức Thánh Cha lại gọi là “nghệ thuật đồng hành”.

Lẽ dĩ nhiên, đồng hành sẽ là nghệ thuật, vì trong đồng hành chúng ta vượt qua thách đố, vượt lên «tính hoài nghi, thói quen nghi kỵ lẫn nhau, sợ mất cái riêng tư của mình, tất cả những thái độ tự vệ mà thế giới hôm nay áp đặt trên chúng ta. Nếu ta không đi vào nghệ thuật thì chắc hẳn sẽ rất khó đi vào đồng hành cùng nhau. Nhiều người tìm cách trốn tránh người khác và tìm ẩn náu nơi cái tiện nghi tư riêng của mình hay nơi một nhóm thân hữu ít ỏi»[7]. Hơn nữa, đồng hành còn là sự đáp trả lời dạy Tin Mừng: «hãy mạo hiểm vào những cuộc gặp gỡ trực diện với người khác, với sự hiện diện thể chất của họ vốn thách thức chúng ta, với nỗi đau và các lời kêu xin của họ, với niềm vui của họ lan toả sáng chúng ta trong mối tương tác gần gũi và liên tục»[8] để làm tăng trưởng đức tin và dấn thân loan báo Tin Mừng.

2,1 Đồng hành sẽ là một nghệ thuật cần có trong đời sống cộng đoàn

Có thể nói, đời sống cộng đoàn dòng tu cũng cần lắm “Nghệ thuật đồng hành”.Vì trong đời sống cộng đoàn của người tu sĩ luôn hiện diện hai chiều kích: một là ý thức mạnh mẽ về sự tin tưởng cá nhân, nghĩa là ý thức về giá trị của riêng mình, nơi những người làm nên cộng đoàn; hai là ý thức về sự liên đới với tất cả mọi người trong cộng đoàn ấy. Hai chiều kích đó bổ túc trong cùng một thực tại duy nhất là cộng đoàn. Thế nên, vấn đề là cần có sự đồng hành trong cộng đoàn, bằng việc lắng nghe đầy cảm thông để có những chọn lựa các giá trị thích hợp trong chấp nhận và liên đới. Điều này đòi hỏi một đức ái nổi bật, đặc biệt nơi bề trên, và một ý thức rõ ràng về lề luật, cái khuôn khổ vừa mang tính định hình vừa là khung cho cộng đoàn hoạt động, nơi tất cả mọi người. Ta có thể tìm thấy trong số 29 của “Xuất Phát Lại Từ Đức Kitô” có bàn về vấn đề này như sau: “Cộng đoàn là nơi chốn sống tình hiệp thông, trong đó các mối tương quan sẽ bớt hình thức hơn; việc chấp nhận và hiểu biết nhau sẽ có điều kiện thuận lợi hơn; các thành viên sẽ khám phá được các giá trị thần thiêng và nhân bản của việc quảng đại chung sống trong tình huynh đệ và chia sẻ nếp sống chung với nhau như những môn đệ chung quanh Đức Kitô, Vị Thầy của chúng ta.[9]

Thật thế, nhờ biết lắng nghe và biết cảm thông, mỗi người mới biết đi vào mối liên hệ sâu xa và hiệp thông với người khác. Đó là cách mỗi người tôn trọng nhau, trao ban cho nhau và đón nhận nhau. Điều ấy, mỗi người phải làm bằng cả con tim, trí não và linh hồn của mình một cách chân thành, không chút gian dối, không làm bộ ra vẻ, không đeo mặt nạ. Nhờ đó, các mối tương quan giữa chị em với nhau mới được trong sáng và bền chặt. Thánh Phaolô có dạy rằng: “Lòng bác ái không được giả hình giả bộ. Anh em hãy gớm ghét điều dữ, tha thiết với điều lành; thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình; nhiệt thành, không trễ nải; lấy tinh thần sốt sắng mà phục vụ Chúa”.[10]

Cùng nhìn về cộng đoàn các Tông Đồ đầu tiên gồm những cá nhân, khác nhau về mọi mặt như đã được mô tả trong Phúc Âm, nhưng chung một điểm: ước muốn theo Chúa, để xây dựng và chia sẻ một tình yêu cứu thế, để được nên hoàn thiện như Cha trên trời.Chấp nhận đi vào con đường đó, các môn đệ đã sống chung với nhau, đã được giáo huấn, đã chia sẻ sứ mệnh, đã sống đời làm chứng trong suốt cuộc đời còn lại, cả làm chứng bằng máu đào… để trung thành với Thầy, và để tiếp nối sứ mạng cứu thế của Thầy.Mục đích của đời tu cũng vậy… Đi theo và ở lại với Đức Kitô. Ở lại với Đức Kitô là chấp nhận ở lại với những người trong tập thể trong cộng đoàn của Đức Kitô. Cộng đoàn dòng tu phải có sức hóa giải đặc tính khác biệt do những cá nhân làm thành cộng đoàn: khác biệt về hoàn cảnh sống, về tính tình, gia thế, địa vị xã hội, kiến thức cá nhân, hoàn cảnh giáo dục…Như thế, hành trình của người tu, hành trình của một cộng đoàn người tu là: Nghe theo tiếng gọi, để được sống với Thầy, được chia sẻ đời huynh đệ với Thầy và với anh chị em. Chia sẻ những lời dạy và nếp sống, làm chứng bằng tình yêu huynh đệ, bằng lời chứng… bằng cả cuộc sống yêu thương, phục vụ.

3. Tính cấp bách của việc “cởi dép” khi bước vào trong đời sống cộng đoàn tu trì.

Giá trị cao quí của đời sống cộng đoàn là một điều hiển nhiên, do đó thách đố của đời sống cũng là một điều không thể tránh khỏi và không phải là dễ dàng thắng vượt.Khi những cá nhân với rất nhiều khác biệt quy tụ lại với nhau, họ cũng để mọi cái họ có làm của chung: cái tốt và cái xấu! Chấp nhận cái tốt như món quà qúy giá thì cái yếu kém cũng phải được chấp nhận như món quà Chúa trao.Phải xác tín rằng Thiên Chúa dựng nên mỗi người đều có mặt mạnh và mặt hạn chế.

Sống trong một cộng đoàn, mỗi người lẽ dĩ nhiên phải thực hiện các hành động cách cá nhân hay tập thể, trực tiếp hay gián tiếp để góp phần xây dựng, bổ túc và làm phong phú đời sống cộng đoàn. Tuy nhiên, việc tham gia vào đời sống cộng đoàn cũng cần thiết phải có những nguyên tắc riêng của nó và cần được lưu tâm như một nghệ thuật đòi hỏi sự nhạy bén của trái tim và lý trí muốn đóng góp xây dựng cộng đoàn. Và đặc biệt hơn cả là hành vi cởi dép khi bước vào vùng đất thánh thiêng của người chị em đang sống trong cộng đoàn.Hơn bao giờ hết, để tham gia vào đời sống cộng đoàn, nhất là khi đứng trên vùng đất thánh thiêng của mỗi tâm hồn chị em sống bên mình, thì cởi dép chính là đối thoại trong yêu thương và tôn trọng, với tác động của Chúa Thánh Thần. Để đối thoại thật sự cần chân thành trình bày ý kiến đồng thời lắng nghe người khác và nhất là gạt bỏ thiên kiến riêng tư, để cho tiếng nói Chân lý được sáng lên. Đôi khi cởi dép còn là sự nhượng bộ, nhẫn nhịn để tìm sự hòa hợp trong cộng đoàn. Và cởi dép sẽ là sự đón nhận những khác biệt của nhau, vì đời tu không bắt đầu với những lựa chọn tùy ý, mà sống bên nhau theo tiếng gọi thần linh, nên cần nhiều sự cảm thông chia sẻ dung hòa tránh thái độ cục bộ, địa phương dẫu cho tuổi tác, tính tình, nếp suy nghĩ, văn hóa, trình độ, thói quen chẳng giống nhau và thậm chí còn đối nghịch nhau.

Đồng thời, nhìn mọi sự bằng con mắt đức tin cũng là một hành vi của việc cởi dép vì tất cả và từng chị em là Gift (quà tặng) Chúa ban cho tôi và cộng đoàn. Đón nhận người chị em như món quà Chúa trao tặng. Nhận quà tặng mà không mở ra xem thì không phải là thái độ trân quý người tặng quà. Những món quà chị em tôi, nhiều khi còn đóng kín, không thể lộ ra được nét đẹp nếu tôi không khai mở, không bóc nó ra. Tôi phải dành giờ mở gói quà còn phong kín đó, để hiểu được, để cảm thông được và để yêu thương được. Chắc hẳn một nhắn gừi nào đó của Chúa tình thương, của Đấng Tạo Thành còn gói trong chị, trong em đang chờ được mở cho tôi.Phải cảm tạ Chúa về những gì Chúa đã phú trao, phải chấp nhận chính mình trong hiện thực về mình, từ thân xác, tài năng, cả những nết xấu, yếu kém, thiếu thốn để biết tin tưởng cậy dựa vào Chúa. Chấp nhận chính mình để cảm tạ Chúa vì điều ta đang có và cũng cảm tạ Chúa về điều ta không có.

quan tâm tới người khác cũng sẽ là một hành vi cởi dép vì cầncó con mắt tế nhị để có thể nhìn ra nhu cầu của người khác, những nhu cầu không dám ngỏ, những nhu cầu còn ngại ngần khép kín… những nhu cầu thể chất và tinh thần. Một cái nhìn quan tâm sẽ nhận ra ngay một nét buồn thoáng qua, hay một nét thất vọng, chán nản, một nét chua cay cần được nâng đỡ… Hay một nụ cười hàm tiếu bên khóe miệng, cần một cái nhìn khích lệ, sẵn sàng chia sẻ của tôi để được òa vỡ thành tiếng cười vui, thành niềm hạnh phúc chan hòa. Những quan tâm không phải là tò mò, xét nét! Nghệ thuật đó nằm trong con mắt tình yêu!

Lắm khi, biết lắng nghe người khác sẽ là hành vi của việc cởi dép vì phải lắng nghe với cả tâm hồn rộng mở. Lắng nghe mà không hề phê phán, lắng nghe như người đối diện tỏ lộ. Lắng nghe không một chút phán đoán, phê bình vì mình không phải là quan tòa, cộng đoàn cũng không phải là tòa án để phê phán đúng sai, hạch hỏi, tra khảo… ẩn ý! Làm sao để khi gặp một nỗi niềm, khi cần có một người cảm thông, cần một lời khích lệ, thì người chị em luôn nhớ đến và quẳng vào tai tôi, mà không phải so đo, đề phòng bị bật mí, phản bội.

Thật vậy, một thái độ dễ thương cũng là hành vi của việc cởi dép vì cũng cần một thái độ dễ thương để người khác có thể thương được mình. Đứng để mình trở thành một thách đố cho tình thương của người khác. Xét nét, cái nhìn chằm chằm như rình mò bắt lỗi khiến không ai dám đến gần mình. Không phải mình cứ đúng phép, đúng liều lượng, đúng lẽ là đòi buộc chị em phải yêu thương mình. Đừng vì những công việc những hy sinh vì việc chung mình phải làm mà tỏ ra lạnh lùng băng giá, cứng cỏi với chị em. Coi chừng mình trở thành tảng băng luôn làm tắt ngấm những nụ cười, những niềm vui nho nhỏ trong cuộc sống chung. Cuộc sống chung đòi mình dù ở chức vụ nào cũng cần phải mềm mỏng, nhẹ nhàng: càng cao thì càng phải ở thấp… Phải sống sao cho mình trở thành món quà tốt, món quà dễ thương mà ai cũng muốn đón nhận và luôn muốn mở ra xem.

Thứ nữa, trong đời sống cộng đoàn thì việc cởi dép sẽ là hành vi đối xử công bằng trong bác ái, là sự bình đẳng theo nghĩa nhân vị cao cả, tránh thái độ cào bằng, đánh giá người khác với cái nhìn chủ quan cũng như sự vâng lời tối mặt. Và cuối cùng, cởi dép chính là sự tôn trọng ý kiến của người khác, đừng để cái chủ quan một phía giết chết tiếng nói Thần Khí, điều quan trọng không phải là ai đúng, ai sai mà là cái gì là chân lý. Vì khi mỗi người trong cộng đoàn chưa đặt lý tưởng cao quý của mình lên hàng đầu, lý tưởng đó là Đức Kitô, chưa xác định rõ ràng ơn gọi của mình trong đời sống ơn gọi mà mình theo đuổi, sống còn với nó thì làm sao mà đặt giá trị của đời sống cộng đoàn làm điểm tựa cho chính bản thân mình. Vì đời sống cộng đoàn luôn cần đến sự cảm thông yêu thương thật sự, như vậy mới thúc đẩy con người đi lên theo chiều hướng tích cực trong gốc độ tương quan giữa người với người, giữa người với bầu khí cộng đoàn. Có Đức Kitô, có cảm thông, có yêu thương thật sự con người mới sống gắn bó và triển nở hơn, đem sự cảm thông yêu thương đó lây lan đến người khác.

Kinh nghiệm bản thân cho thấy, người nữ tu tham gia rất nhiều nếu không muốn nói là chính họ làm nên đời sống cộng đoàn, bởi mỗi người là những tế bào đích thực cấu thành cộng đoàn tu trì. Nên việc tham gia vào đời sống cộng đoàn cũng hết sức tự nhiên và dễ dàng trong những cuộc đối thoại, chia sẻ, những buổi chia sẻ Lời Chúa, đồng hành thiêng liêng, chấp nhận tôn trọng yêu thương anh chị em bên cạnh mình, đỡ nâng trong công tác mục vụ xã hội, những góp ý xây dựng và đổi mới cộng đoàn, chia sẻ và liên đới trong sứ vụ…những người lớn tuổi, đau bệnh tham gia sứ vụ của cộng đoàn bằng sự hy sinh, bằng lời cầu nguyện, bằng chia sẻ kinh nghiệm… Mỗi người trong cộng đoàn tu trì còn có trách nhiệm nâng đỡ, tôn trọng và bảo vệ nhau, cùng giúp nhau thăng tiến. Đời sống cộng đoàn như một đại dương đầy yêu thương và cũng có đầy bão tố. Một mặt vừa giúp cá nhân tôi luyện mình nên hoàn thiện, mặt khác đầy khó khăn trắc trở đòi hỏi mỗi thành viên phải nhờ ơn Chúa để vượt qua. Tuy vậy, nếu Chúa Giêsu Thánh Thể thực sự hiện diện trong cộng đoàn và trong tâm hồn mỗi người, đời sống cộng đoàn sẽ trổ hoa Phục Sinh, niềm vui sẽ tràn ngập.

III . KẾT LUẬN: 

Có thể nói, chiều kích cộng đoàn là vấn đề quan trọng trong đời sống tu sĩ, đó là lời khấn thứ tư sau ba lời khuyên Phúc Âm. Nói đến đời sống cộng đoàn, tương quan giữa các chi thể tong cùng một thân thể là hình ảnh tuyệt đẹp. Thiên Chúa dựng nên mỗi người là một cá vị đặc thù. Vì thế, tôi chỉ có thể là tôi mà không thể là người khác, và tôi cũng không thể bắt người khác giống hệt tôi. Mỗi chi thể giữ một chức năng riêng, mỗi tu sĩ đều có bổn phận riêng, người này bổ túc cho người kia làm nên sự hòa điệu trong cuộc sống thường ngày và làm nên nét phong phú tươi đẹp cho cộng đoàn. Là chi thể trong cùng một thân thể, đón nhận nhau là chuyên đương nhiên, phần thân thể nào chưa đẹp, người ta trang điểm hoặc tìm cách này hay cách khác cho nó đẹp hơn. Bởi đó, dưới cái nhìn của một tu sĩ đang sống giữa cộng đoàn, tôi cảm nhận rằng trong lời dạy của Đức Giáo Hoàng Phanxicô: “ Hội Thánh sẽ phải dẫn đưa mọi người – linh mục, tu sĩ và giáo dân – vào trong “nghệ thuật đồng hành” này, nó dạy chúng ta biết cởi dép khi đứng trên nên đất thánh thiêng của người khác (xem Xh 3, 5)” như là kim chỉ nam cho những ai đang dấn thân trong đời sống cộng đoàn. Nơi đây, thánh ý Chúa qua Đức Thánh Cha mời gọi tôi biết “cởi dép thật sự” để không những tôn trọng cái riêng, cảm thông, tha thứ, mà còn yêu thương vác đỡ thập giá cho nhau. Nhờ đó, cộng đoàn sẽ là nơi nâng đỡ người tu sĩ, giúp chị em chia sẻ gánh nặng trách nhiệm, công việc cho nhau. Cùng chị em tôi có thể tránh được nhiều chước cám dỗ, tập tành nhân đức, với chị em tôi được thăng tiến,…tuy không tránh khỏi những mâu thuẫn, bất đồng. Thế nên, khi tôi cởi dép khi đứng trên nên đất thánh thiêng của người khác trong cộng đoàn, là lúc tôi dấn thân hết mình, hết tình, sẵn sàng quên đi lợi ích cá nhân để cộng đoàn là chứng từ rao giảng hùng hồn, thuyết phục nhất về tình yêu Chúa trong một xã hội tục hóa hiện nay.

Nt . Têrêxa Thiên Thanh ( Dòng MTG Qui Nhơn)

[1]Tông huấn Evangile Gaudium số 169[


[ 2]Tông huấn Evangile Gaudium số 169

[ 3 ]Tông huấn Evangile Gaudium số 169 [

[4] Động từ “accompagner” trong tiếng Pháp (trong tiếng Anh cũng tương tự) có nhiều nghĩa: 1- Đi, đi theo, tùy tùng, tiễn đưa, hộ tống, hộ vệ. 2- Thích hợp; 3- Thêm vào, phụ thêm; 4- Hòa nhạc, hòa tấu., trong Đào Duy Anh, Pháp -Việt tự điển, Dictionnaire Francais – Vietnamien, NXB Trường Thi, 1957.

[5]Chỉ cần vào công cụ google.com tìm kiếm chữ đồng hành bằng tiếng việt hay bằng tiếng anh, pháp, Ý… là chúng ta được kết quả khổng lồ trong tictac.


[6]Ví dụ, trong các giáo xứ, đặc biệt cộng đoàn tu trì – chủng viện thường dùng hạn từ nầy. Một số văn kiện của Giáo Hội gần đây dùng chữ “đồng hành” khá nhiều. Chẳng hạn xem Gioan Phaolô II, Tông huấn về gia đình, Familiaris Consortio(22.11.1981), số 34, 65 [= Familiaris Consortio]; Bênêđictô xvi, Tông huấn Sacramentum caritatis, Bí tích tình yêu (22.2.2007), các số 28, 29, 96, 97 [= Sacramentum caritatis]; BỘ Giáo Sĩ, The priest, minister of divine mercy– Linh mục, thừa tác viên của lòng Chúa thương xót, tài liệu hỗ trợ các cha giải tội và linh hướng (9.3.2011), các số 64, 66, 67, 138 (bản dịch việt ngữ của linh mục Đặng Xuân Thành [=Linh mục, thừa tác viên của lòng Chúa thương xót]; BỘ Giáo Sĩ, Directoire pour le ministère et la vie des prêtresKim chỉ nam về tác vụ và đời sống linh mục (11.2.2013), các số 41, 73, 93, 111…(bản dịch việt ngữ của Đại Chủng Viện Huế, NXB Tôn Giáo 2014)[= Kim chỉ nam về tác vụ và đời sống linh mục 2013]; HỘi ĐỒng Giám MỤc ViỆt Nam, Thư chung 1980, số 9; Matthêô Nguyễn Văn Khôi, Thư định hướng mục vụ năm 2014, các số 19, 20, 21, 22; trong Bản Thông Tin Giáo phận Qui Nhơn, số 191 tháng 3.2014, tr. 165-167.

[7]Evangelii Gaudium, số 88.

[8] .Evangelii Gaudium, số 88.

[9]Xuất Phát Lại Từ Đức Kitô, số 29.

[10 ]Rm 12, 9-16


[


Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *